menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Sơn Trà - Thực hiện phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự, hôn nhân gia đình
Đăng ngày 31-05-2020 04:18

Thực hiện Chương trình công tác năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà về việc tổ chức phiên toà rút kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết án dân sự, ngày 25 và 26/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phối hợp cùng Tòa nhân dân quận Sơn Trà tổ chức hai phiên tòa rút kinh nghiệm.

1. Vụ thứ nhất: Vụ án “Tranh chấp HĐ đặt cọc” thụ lý số 128/2019/TLST-DS ngày 06/9/2019 giữa: Nguyên đơn: Bà Võ Thị B - SN 1961 và Bị đơn: Bà Hồ Thị H - SN 1968; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:  Ông Nguyễn Văn M- SN 1968; Ông Trịnh Văn S - SN: 1960 và bà Vũ Thị Đ – SN: 1964; Ông Bùi Th – SN 1961 và bà Trương Thị Ngọc Đ – SN 1964.

Vụ án này do Kiểm sát viên Trần Thị Hương Thu kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa.

* Nội dung vụ án:

Nguồn gốc lô đất Khu A2, Lô số 10 tại phường Thọ Quang, quận Sơn Trà của vợ chồng ông Bùi Th và bà Trương Thị Ngọc Đ. Năm 2009, vợ chồng ông Trịnh Văn S, bà Vũ Thị Đ mua lô đất nêu trên của vợ chồng ông Bùi Th, bà Trương Thị Ngọc Đ với giá 360.000.000đ nhưng vì lúc này lô đất trên vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông Th bà Đ làm Đơn xin đổi tên nhận quyền sử dụng đất cho ông S bà Đ (có xác nhận của UBND phường Thọ Quang) vào năm 2010.

Năm 2019, ông M có nhu cầu mua đất của ông S bà Đ nhưng vì vẫn chưa có Giấy chứng nhận, nên ngày 12/3/2019, vợ chồng ông S, bà Đ và ông M lập Giấy cam kết về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đặt cọc lô đất trên với giá 4.620.000.000đ, ông M đặt cọc trước 300.000.000đ, hẹn 50 ngày sau hai bên ra công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng và giao nốt số tiền còn lại. Ngày 19/4/2019, ông M lập văn bản đồng ý để bà Hồ Thị H được nhận cọc và thanh toán tiền liên quan đến quyền sử dụng lô đất trên cho ông. Ngày 22/4/2019, ông Bùi Th và bà Trương Thị Ngọc Đ được UBND quận Sơn Trà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP915455.

Do có nhu cầu mua đất cho con làm nhà ở và biết bà H có nhu cầu bán đất nên bà Võ Thị B đã liên hệ với bà H để mua. Ngày 25/4/2019, bà Hồ Thị H và bà B lập Giấy cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đặt cọc lô đất trên với giá 4.800.000.000đ, và bà B đặt cọc trước 300.000.000đ, hẹn 30 ngày có sổ các bên đến Văn phòng công chứng và giao nốt số tiền còn lại.

Sau 30 ngày, hai bên có thống  nhất hẹn đến ngày 30/5/2019 cả hai bên sẽ ra văn phòng công chứng. Đến 14 giờ ngày 30/5/2019, bà H, ông M, vợ chồng ông S, bà Đ, vợ chồng ông Th, bà Đ đến Văn phòng công chứng số 3 để thực hiện việc công chứng nhưng chờ không thấy bà B nên các bên vẫn tiếp tục mua lô đất trên. Ông Bùi Th và bà Trương Thị Ngọc Đ đã chuyển nhượng lô đất trên cho ông Nguyễn Văn M.

Do nhận thấy việc mua bán không rõ ràng, giấy tờ không có, bà H không thực hiện đúng như giấy cam kết hai bên đã thoả thuận, đã qua thời hạn 30 ngày mà bà H vẫn không ra sổ đỏ có tên bà H để đến phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng là đã vi phạm Hợp đồng. Vì vậy bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc 300 triệu đồng và yêu cầu phạt cọc 300 triệu đồng như cam kết.

2. Vụ thứ hai: Vụ án “Ly hôn, nuôi con chung” giữa: Nguyên đơn: Bà Lã Thị N, sinh năm 1984 và Bị đơn:Ông Đặng Công C, sinh năm 1979;

Vụ án này do Kiểm sát viên Đoàn Hải Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa.

* Nội dung vụ án:

Bà Lã Thị N và ông Đặng Công C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hải Đông. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống nên vợ chồng thường hay cãi vã nhau. Ông Đặng Công C không có trách nhiệm với gia đình, gây nợ nần bên ngoài và chủ nợ đến gây gổ làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của gia đình. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn chồng là ông Đặng Công C. Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thanh N, sinh ngày 30/12/2009 và Đặng Công T, sinh ngày 28/12/2015. Ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

     

 Toàn cảnh phiên tòa

Tại phiên tòa, các Kiểm sát viên đã kiểm sát chặt chẽ việc chấp hành các thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi khai mạc phiên toà đến trước khi HĐXX nghị án. Đồng thời kiểm sát chặt chẽ việc hỏi và tranh luận tại phiên toà. Kiểm sát viên đã thể hiện bản lĩnh, sự tự tin, tham gia đặt các câu hỏi một cách ngắn gọn, trọng tâm, bám sát nội dung vụ án, thể hiện được vai trò của mình bằng việc chủ động tham gia hỏi để làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án. Qua vụ án này, KSV đã thể hiện được vai trò, vị trí của mình khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà.

Đối với 02 phiên tòa này, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phù hợp với quyết định của Hội đồng xét xử.

Sau phiên toà rút kinh nghiệm, ngày 27/5/2020 tại Hội trường Viện KSND quận Sơn Trà đã tổ chức cuộc họp để đánh giá việc thực hiện kỹ năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà của Kiểm sát viên, thành phần tham dự là toàn thể Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Lãnh đạo trong đơn vị. Tại cuộc họp, các ý kiến đánh giá đều thống nhất: Kiểm sát viên đã làm tốt nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà, theo dõi sát sao diễn biến phiên toà, phát hiện thiếu sót của Thẩm phán trong thủ tục tố tụng để yêu cầu khắc phục, nắm vững nội dung vụ án, các câu hỏi của Kiểm sát viên rõ ràng, dễ hiểu, không trùng lặp với câu hỏi của Hội đồng xét xử, của đương sự. Các câu hỏi của Kiểm sát viên đã góp phần giải quyết triệt để vụ án.

Toàn cảnh phiên họp rút kinh nghiệm

Nhìn chung việc tổ chức phiên toà rút kinh nghiệm này đã thành công, đảm bảo chất lượng và đảm bảo tính tuyên truyền pháp luật.

 Trần Thị Hương Thu – VKSND quận Sơn Trà