07:26 ICT Thứ bảy, 23/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Danh sách bài viết

Trang chủ » Công nghệ thông tin » Thống kê

Luật Thi hành án: Luật chồng lên luật

Thứ hai - 04/06/2012 12:08
Luật Thi hành án dân sự là cơ sở pháp lý giúp cho Cơ quan Thi hành án thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, qua hơn 2 năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự đã bộc lộ nhiều bất cập, làm hạn chế hiệu quả của công tác này.

Mâu thuẫn giữa quy định và thực tiễn thi hành 

Luật Thi hành án dân sự (THADS) và Nghị định 58/2009/NĐ – CP đều quy định: Người được thi hành án phải có nghĩa vụ chứng minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trước khi yêu cầu thi hành án, nhưng việc xác minh điều kiện thi hành án phải được Tổ trưởng hoặc Thôn trưởng, UBND cấp xã hoặc cá nhân, tổ chức nắm giữ những thông tin về tài sản của người phải thi hành án xác nhận. Nếu những người có trách nhiệm từ chối không xác nhận, thì tài liệu tự xác minh điều kiện thi hành án đó không có giá trị pháp lý để yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, có một thực tế những cá  nhân, pháp nhân có liên quan đến quy định này còn có sự nể nang, va chạm sợ trách nhiệm cá nhân và luôn bảo vệ công dân của địa phương mình, nên xác nhận thiếu chính xác. Hơn nữa, thông tin bí mật cá nhân không cho phép các tổ chức, cơ quan này cung cấp khi người được thi hành án có yêu cầu, do đó gây không ít khó khăn, trở ngại trong trường hợp tự xác minh điều kiện của người phải thi hành án.

Luật THADS quy định: Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp đó tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án. Nhưng trước đó, Chính phủ ban hành Nghị định 109/2007/NĐ – CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, thì công ty cổ phần không có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi, nếu không được bàn giao trách nhiệm thanh toán công nợ phải thi hành án. Quy định này không còn phù hợp với Luật THADS, nhưng đến nay Chính phủ chưa sửa đổi, bổ sung, cho nên nhiều doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở của pháp luật, khi chuyển đổi doanh nghiệp giữa cũ và mới không giao, không nhận khoản nợ phải thi hành án. Và không biết những khoản nợ phải thi hành án trước khi chuyển đổi, của các doanh nghiệp nhà nước xử lý như thế nào, ai chịu trách nhiệm này?

Ngoài ra, Luật THADS cũng quy định: Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án và Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn: Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Tình trạng các trường hợp, người phải thi hành án trên 5.000.000 đồng mà họ không có tài sản thì không thể nộp một phần và sẽ không đủ điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án. Hoặc nhiều đương sự sau khi chấp hành xong hình phạt tù ra trại và bỏ đi khỏi địa phương và không tìm ra nơi cư trú mới, các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương không chấp nhận đưa ra xét miễn, giảm, cho nên hồ sơ thi hành án dân sự tồn đọng mỗi ngày nhiều thêm chưa có hướng giải quyết cụ thể.

Luật THADS quy định: Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm để thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký. Và Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định: Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nhưng Luật Nhà ở năm 2005 thì quy định: Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở được tính từ khi hợp đồng mua bán được công chứng. Như vậy, hai văn bản luật ban hành cùng thời điểm, nhưng xác định giá trị pháp lý cuối cùng của giao dịch bất động sản không thống nhất. Do đó khi thực hiện kê biên tài sản để thi hành án, Chấp hành viên không biết áp dụng quy định nào cho đúng pháp luật và đây là vấn đề dẫn đến khiếu nại yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với người thi hành công vụ, cho nên Chấp hành viên luôn bị động lúng túng, thà tránh còn hơn rước họa vào thân.

Và còn lỗ hổng

Luật THADS quy định đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự mà hết thời hạn 1 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, thì Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài, thì việc uỷ thác Tư pháp quốc tế thi hành án dân sự trả lại giấy tờ cho người đang cư trú ở nước ngoài, hoặc việc xác minh điều kiện và thực hiện việc thi hành án tại nước ngoài như thế nào cho đúng pháp luật. Hiện nay các bản án, quyết định của Tòa án có yếu tố nước ngoài xảy ra khá phổ biến và người phải thi hành án đã chấp hành xong hình phạt tù hồi hương về nước, phần phải thi hành án dân sự chưa chấp hành xong. Cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ để xác minh về nhân thân, tài sản của người phải thi hành án ở nước ngoài, do đó không đủ điều kiện để trả lại giấy tờ và xét miễn, giảm hoặc hoãn, đình chỉ thi hành án đối với các đối tượng này.

Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, quyết định đã tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước. Nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thì vật chứng, tài sản trong các vụ án hình sự là những căn phòng mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội chứa mại dâm và bản án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước một số căn phòng chứa mại dâm từ tầng 2 trở lên. Cơ quan tài chính lập thủ tục bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, nhưng tài sản này khép kín trong cùng ngôi nhà của chủ sở hữu đang quản lý sử dụng, không có lối đi độc lập và cũng không thể tháo dỡ vật liệu mang đi nơi khác, cho nên không có người nào mua đấu giá tài sản này. Nếu để thi hành được bản án chỉ còn cách duy nhất là thuyết phục người phải thi hành án mua lại tài sản là những căn phòng đó, nhưng họ không bao giờ bỏ tiền ra mua lại tài sản của chính mình. Xét cho cùng, nội dung quyết định của bản án là đúng quy định của Luật THADS, nhưng Luật THADS và bản án đều không phù hợp với thực tế khách quan, nên không có khả năng thực hiện. Đó là chưa kể đến các quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy chất độc Xyanua, nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định rõ về trình tự, thủ tục xử lý tiêu hủy chất độc này. Trong khi đó, công tác bảo quản, lưu kho chất độc Xyanua dễ ảnh hưởng đến môi trường và gây nguy hiểm cho con người. Nếu tiêu hủy thì quy trình kỹ thuật xử lý phức tạp, tốn kém nhiều chi phí, thời gian nhưng thi hành án đúng quyết định của bản án. Ngược lại, nếu bán cho các doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh thì sẽ góp phần thu ngân sách nhà nước, nhưng vô hình trung thực hiện trái với quyết định của bản án.

                                                                                      Thái Nguyên Toàn ( Nguồn Kiểm sát online )

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: thi hành

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

cntt

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 30


Hôm nayHôm nay : 1049

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 141027

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9231075

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

VKS Quảng Nam
Hộp thư điện tử
thư viện pháp luật
Phần mềm quản lý án hình sự
Quản lý án dân sự
báo bảo vệ pháp luật
Viện kiểm sát tối cao
Truyền hình kiểm sát
Tạp chí kiểm sát
Đại học kiểm sát

Bình yên trên vùng đất mới