10:58 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Thông tin Kiểm sát » 55 năm thành lập ngành KSND

Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam từ 1959 đến nay

Thứ ba - 30/06/2015 08:43
Hiến pháp năm 1959 ra đời, là bản Hiến pháp đầu tiên có quy định về chế định Viện kiểm sát nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, hoà bình được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta.

Trong giai đoạn mới của cách mạng, Hiến pháp năm 1946 được sửa đổi cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Hiến pháp năm 1959 ra đời (được Quốc hội  thông qua ngày 31/12/1959), là bản Hiến pháp đầu tiên có quy định về chế định Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Điều 105 ghi rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định".

Ngày 15/7/1960, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh số 20-L/CTN công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, đánh dấu sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, Điều 2, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định rõ chức năng cơ bản của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững. Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi.

Để thực hiện chức năng cơ bản nêu trên, hệ thống tổ chức của ngành được tổ chức từ trung ương đến cấp huyện. Điều 4, Luật Tổ chức quy định: "Các Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương. Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào đặc điểm tình hình của các khu tự trị mà tổ chức Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp trong khu tự trị.

Tổ chức Viện kiểm sát quân sự các cấp do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định riêng căn cứ vào những nguyên tắc tổ chức Viện kiểm sát nhân dân định trong luật này".

Trong quá trình hoạt động, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thi hành nhiệm vụ bằng cách:

a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và của công dân.

b) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự.

c) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác;

d) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;

e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;

g) Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.

                                                          (Trích: Điều 3 Luật Tổ chức năm 1960).

Khi làm nhiệm vụ, Viện kiểm sát nhân dân phải theo nguyên tắc mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, nòi giống, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội và thành phần xã hội.

Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp làm nhiệm vụ của mình một cách độc lập, các cơ quan Nhà nước khác không được can thiệp và chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

                                                       (Trích Điều 5, 6 Luật Tổ chức năm 1960).

Tổng kết hoạt động 15 năm của ngành Kiểm sát nhân dân, giai đoạn 1960 – 1975, ngành Kiểm sát đã đạt được những kết quả to lớn trong việc thực hiện chức năng kiểm sát, phục vụ tích cực hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời, là hậu phương vững chắc cho miền Nam. Miền Nam, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện được các nhiệm vụ trọng tâm là đấu tranh chống lại bọn phản cách mạng, bảo vệ các quyền dân chủ của công dân, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và chế độ quản lý của Nhà nước.

Công tác kiểm sát giai đoạn này đã thể hiện rõ tư tưởng của đồng chí Hoàng Quốc Việt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đầu tiên: Công tác kiểm sát thực chất là công tác chính trị, công tác kiểm sát phải phục vụ nhiệm vụ chính trị.

Đại thắng mùa xuân 1975, đánh dấu mốc son mới của lịch sử nước nhà, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đã đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong giai đoạn mới là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chuyển sang thời kỳ mới, ngành Kiểm sát nhân dân có bước phát triển mới cả về tổ chức và hoạt động. Hiến pháp mới (1980) xác định nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lý Nhà nước. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1981) một lần nữa đã khẳng định vị trí, vai trò, trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất trong cả nước.

Trên cơ sở Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới, chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm sát của ngành Kiểm sát nhân dân đã được xác định rõ hơn. Theo Điều 3Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi năm 1981 ghi: Các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những công tác dưới đây:

1/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân;

2/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và các cơ quan điều tra khác;

3/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

4/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

5/ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo.

 Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng được đề cập trong các văn kiện Đại hội lần thứ VI và các Nghị quyết khác của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội, ngành Kiểm sát nhân dân đã có sự đổi mới về tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi, bổ sung năm 1988, trong đó có một số điểm mới so với Luật Tổ chức năm 1981. Cụ thể, tại Điều 3 có ghi:

Bổ sung Điểm 2:

"2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra, của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm".

Bổ sung điểm 6 và điểm 7:

"6. Điều tra tội phạm trong những trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự";

"7. Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự khi xét thấy cần thiết".

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, ngày 15/4/1992, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 11 đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1992. Điều 137 Hiến pháp 1992 quy định:Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi và Quốc hội đã thông qua vào ngày 07/10/1992, quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố bằng những công tác sau đây:

1- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước nói trên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân;

2- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

3- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân;

4- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân;

5- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;

6- Điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

                                                                                           (Trích Điều 3)

Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu khách quan và cần thiết. Ngày 25/12/2001, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Hiến pháp 1992 (sửa đổi), tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh và Hiến pháp năm 1992. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Năm 2002 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng về chức năng, nhiệm vụ và  hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (theo Điều 137 Hiến pháp và Điều 1 Luật Tổ chức VKSND năm 2002). Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001), Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:

1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân;

6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

                                      (Trích Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân).

Thực hiện các quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân mới được ban hành, như: Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Nghị quyết số 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, tiếp tục thực hiện các yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng như Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị... Các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có những tiến bộ đáng kể, nhất là công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự.  

Từ năm 2010 đến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Hiến pháp năm 1992  đã được sửa đổi một cách toàn diện cho phù hợp.

Năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Những sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp mới là rất căn bản, sâu sắc, khẳng định con đường chúng ta đi theo là đúng và được nâng lên tầm cao hơn, tạo điều kiện cho bước phát triển mới của đất nước. Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 2013 đã có những nội dung mới quan trọng về chế định Viện kiểm sát nhân dân; bổ sung, làm rõ hơn những nguyên tắc mới, tiến bộ của tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Đồng thời, trước yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước trong tình hình mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, để thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Để phù hợp với những chế định mới theo Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cần sửa đổi để tạo cơ sở pháp lý đổi mới toàn diện cả về hệ thống tổ chức và các nguyên tắc thực hiện chức năng, nhiệm vụ; chuẩn hóa các chức danh tư pháp và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự giám sát bên trong và bên ngoài hệ thống, nhất là sự giám sát của cơ quan dân cử... Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy trách nhiệm của cán bộ, công chức ngành Kiểm sát; sự chỉ đạo sâu sát của Đảng và sự quan tâm, ủng hộ của các ngành, các cấp, dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội  khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014.

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có nhiều quy định mới, trong đó, có những quy định như: Đã  xác định rõ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước. Với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân được xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồng thời kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, mọi vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Làm rõ nội dung nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Viện kiểm sát nhân dân và quy định hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm 4 cấp, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp.

Việc lập các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đảm bảo sự kế thừa ổn định về tổ chức, bộ máy hiện có, tính khả thi để thực hiện ngay các nhiệm vụ quyền hạn khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có hiệu lực vào 01/6/2015. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là cấp tổ chức thay cho Viện kiểm sát phúc thẩm hiện nay, nhưng được mở rộng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án trong lĩnh vực hình sự, hành chính, các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi địa hạt thuộc thẩm quyền./.

Tác giả bài viết: Lê Thị Bắc - TCCB

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

thư viện pháp luật
Đại học kiểm sát
VKS Quảng Nam
báo bảo vệ pháp luật
Phần mềm quản lý án hình sự
Truyền hình kiểm sát
Hộp thư điện tử
Tạp chí kiểm sát
Quản lý án dân sự
Viện kiểm sát tối cao

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 62

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 55


Hôm nayHôm nay : 2209

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 158866

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9677537

Bình yên trên vùng đất mới