06:04 ICT Thứ ba, 21/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Thông tin, thông báo nội bộ

RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ ÁN HÀNH CHÍNH, KINH DOANH THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG NĂM 2016

Thứ sáu - 28/10/2016 15:06
1. Tình hình chung: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục quy định kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những khâu công tác quan trọng để Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động… của Toà án được kịp thời, đúng pháp luật. Trong đó, kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định hành chính, kinh doanh thương mại, lao động… sơ thẩm là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, một trong những biện pháp thể hiện rõ nhất chức năng kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hành chính. Kháng nghị phúc thẩm góp phần khắc phục, sửa chữa vi phạm của Toà án trong việc giải quyết vụ án về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, về hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán, hợp đồng lao động góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.

Từ đầu năm 2016 cho đến nay, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã ban hành:

- 08 kiến nghị (TP: 02; Q, H: 06); trong đó có 03 kiến nghị trong lĩnh vực xem xét, áp dụng BPXLHC;

- 08 kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm. Trong đó: TP: 05 (KDTM: 02 vụ; LĐ: 03 vụ); Q,H: 03 (KDTM: 02 vụ; ADBPXLHC: 01 việc).

- Tòa án đã đưa ra xét xử: 07 vụ. Trong đó: VKSND TP. Đà Nẵng rút kháng nghị: 04 vụ (KDTM: 01 vụ; LĐ: 03 vụ). Nguyên nhân do:

* Quyết định kháng nghị của VKSND TP. Đà Nẵng đối với bản án KDTM của TAND quận Cẩm Lệ, việc kháng nghị của VKSND TP. Đà Nẵng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Do đó, VKSND TP. Đà Nẵng phải rút kháng nghị.

* 03 quyết định kháng nghị của VKSND TP. Đà Nẵng đối với 03 bản án Lao động sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong trong hồ sơ vụ án thì Kháng nghị số 02/2016/QĐ-KNPT-LĐ ngày 15/4/2016, số 03/2016/QĐ-KNPT-LĐ, số 04/QĐ-KNPT-LĐ ngày 26/4/2016 của VKSND TP. Đà Nẵng đối với 03 bản án Lao động sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê theo hướng: Đề nghị TAND TAND thành phố Đà Nẵng tuyên hủy 03 bản án sơ thẩm nêu trên do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng chưa đúng các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có ý kiến và có đơn xin rút đơn khởi kiện và được đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng ý. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 284 BLTTDS năm 2015, VKSND TP. Đà Nẵng rút 03 kháng nghị nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 hủy 03 bản án Lao động sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê và đình chỉ giải quyết vụ án.

- Tòa án không chấp nhận 02 kháng nghị của Viện kiểm sát, trong đó: 01 kháng nghị trong lĩnh vực KDTM của VKSND quận Thanh Khê; 01 kháng nghị trong lĩnh vực áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của VKSND quận Hải Châu. Nguyên nhân do:

+ Kháng nghị của VKSND quận Thanh Khê đối với bản án KDTM sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê: Ngày 20/5/2009, giữa Cty Agromas và Ngân hàng Agribank – Chi nhánh Đà Nẵng ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 012009/TC với nội dung: Công ty Agromas thế chấp nhà làm việc số 253 Trường Chinh, TP. Đà Nẵng cho Ngân hàng Agribank để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết với số tiền 2.814.000.000đ. VKSND quận Thanh Khê cho rằng, hợp đồng thế chấp trên không công chứng và đăng ký thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không có giá trị pháp lý.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai 2003 thì hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất phải được công chứng; tại khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở thì hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân… Tuy nhiên, không có quy định nào bắt buộc phải công chứng hợp đồng thế chấp là nhà làm việc. Bên cạnh đó, tại Điều 35 Luật Công chứng năm 2006 quy định việc công chứng phải có “Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp liên quan đến tài sản đó”. Đối với trường hợp này, tại thời điểm ký kết hợp đồng thì Cty Agromas chỉ mới có hợp đồng thuê đất ký với UBND TP. Đà Nẵng mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Do đó, hợp đồng trên không công chứng là phù hợp với quy định pháp luật. Mặt khác, việc đăng ký thế chấp được quy định tại khoản 1, 2 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 thì việc thế chấp nhà làm việc không thuộc trường hợp bắt buộc mà chỉ thực hiện khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì nhà làm việc là tài sản gắn liền với đất không phải là trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc đăng ký chỉ thực hiện khi các bên có yêu cầu. Khi ký hợp đồng thế chấp tài sản số 012009/TC ngày 20/5/2009, Cty Agromas và Ngân hàng Agribank không có yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn là Cty VAMC không có ý kiến hoặc kháng cáo đối với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.      

+ Đối với kháng nghị của VKSND quận Hải Châu đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: VKSND quận Hải Châu kháng nghị đề nghị hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của TAND quận Hải Châu, với lý do: Tòa án không làm rõ tình trạng sức khỏe của đối tượng Trần Hồng Minh để xác định đối tượng Minh có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính theo quy định tại khoản 15 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc. Đối với việc này, Phòng 10 đã báo cáo Lãnh đạo Viện đề nghị rút kháng nghị với lý do: Tài liệu, chứng cứ không có đủ cơ sở để xác định đối tượng Minh có dấu hiệu tâm thần do bệnh lý hay do sử dụng ma tuý. Hơn nữa, đối tượng không có khiếu nại, gia đình đối tượng làm đơn xin cho đối tượng Minh được lên Trung tâm 05, 06 để cai nghiện. Đồng thời, pháp luật cũng không quy định đối với trường hợp hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và trả hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung. Tuy nhiên, qua cuộc họp giao ban, theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị. TAND TP. Đà Nẵng đã bác kháng nghị của VKSND quận Hải Châu.

- Tòa án chấp nhận 01 kháng nghị của VKSNDTP. Đà Nẵng đối với 01 bản án KDTM sơ thẩm của TAND huyện Hòa Vang.

Còn lại: 01 vụ KDTM có kháng nghị của VKSND quận Sơn Trà đang chuẩn bị xét xử.

2. Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát, ban hành kháng nghị trong lĩnh vực hành chính, kinh doanh thương mại, lao động:

- Thông qua các biện pháp kiểm sát, nắm chắc số vụ, việc Tòa án đã thụ lý, giải quyết để tiếp nhận đầy đủ, kịp thời các bản án, quyết định và nghiên cứu, kiểm sát đầy đủ các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp.

 - Khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án phải vào sổ theo dõi, xác định chính xác ngày nhận bản án và phân công ngay cho KSV, cán bộ nghiên cứu lập phiếu kiểm sát, đồng thời sao gửi ngay cho VKS cấp trên, đảm bảo mọi bản án, quyết định của Tòa án phải được kiểm sát và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. 

- Để xem xét việc kháng nghị, KSV cần đối chiếu bản án, quyết định với những tình tiết khách quan, chứng cứ đã được xác lập trong vụ án để xác định: Có hay không có vi phạm trong bản án, quyết định của Toà án. Nếu có vi phạm thì vi phạm gì? (về nội dung, về thủ tục tố tụng) vi phạm điều luật nào? Tính chất và mức độ vi phạm? Có cần thiết phải kháng nghị khắc phục hay chỉ cần kiến nghị rút kinh nghiệm đối với Toà án. 

- Trên cơ sở nội dung nhận định và phần quyết định của bản án KSV cần phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ pháp luật Toà án đã áp dụng để giải quyết vụ án; việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật đã chính xác thoả đáng hay chưa?...Trong trường hợp cần thiết, KSV phải yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức... cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, để đảm bảo thực hiện quyền kháng nghị của VKS. 

- Đặc biệt cần lưu ý đối với những vụ án VKS không tham gia phiên toà, KSV cần kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định. Cụ thể: Tập trung nghiên cứu, xem xét về hình thức, nội dung bản án (phần mở đầu, nội dung và quyết định...) 

+ Xem xét Toà án xét xử sơ thẩm giải quyết có đúng thẩm quyền hay không? (thẩm quyền theo lãnh thổ; theo loại việc).

+ Xem xét số ngày, tháng thụ lý nhằm giúp Viện kiểm sát phát hiện Toà án có vi phạm về thời gian giải quyết hoặc xác định thời hiệu khởi kiện có đúng không.

+ Xem xét quan hệ pháp luật về tranh chấp có đúng không? nội dung tranh chấp như thế nào để phát hiện việc Toà án có xác định đúng tư cách tố tụng và đưa đầy đủ người tham gia tố tụng hay không? 

+ Xem xét nội dung yêu cầu của nguyên đơn, nội dung yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với phạm vi xét xử để phát hiện vi phạm của Toà án (có vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập).

+ Xem xét phần nhận định và phần quyết định của bản án có mâu thuẫn không.

+ Xem xét việc xử lý tài sản thế chấp; trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong giao dịch dân sự do một bên thực hiện; căn cứ để tính lãi suất có phù hợp với quy định của Luật hay không, vi phạm về tính án phí…

Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị thì ngoài việc thực hiện các nội dung nói trên, cần trao đổi với Viện kiểm sát cấp dưới đã tham gia kiểm sát việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm để nắm thêm thông tin nhằm xác định chính xác vi phạm của Toà án, làm cơ sở cho việc kháng nghị.

3. Một số dạng vi phạm thường gặp:

- Về vấn đề mua bán nợ của các tổ chức tín dụng: Hiện nay, tranh chấp phổ biến nhất trong lĩnh vực KDTM vẫn là tranh chấp hợp đồng tín dụng, vấn đề nổi cộm hiện nay là các Tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho Công ty quản lý tài sản theo quy định tại Thông tư 19/2013/NHNN ngày 06/9/2013 quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Kể từ khi thông tư này có hiệu lực (ngày 15/9/2013) thì việc mua bán nợ diễn ra tương đối nhiều. Do vậy, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án và tham gia tại phiên tòa sơ thẩm KSV nên chú ý làm rõ có hay không việc mua bán nợ để giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, khi các tổ chức tín dụng bán nợ cho VAMC thì việc xác định tư cách tham gia tố tụng được xác định như sau:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam có quy định về các biện pháp xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của Công ty Quản lý tài sản, trong đó có quy định việc:“Khởi kiện hoặc ủy quyền hoặc chuyển giao quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm ra Tòa án; ủy quyền hoặc chuyển giao quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện quyền và trách nhiệm của Công ty Quản lý tài sản trong thi hành án.”

Với quy định cụ thể như vậy, thì sau khi các tổ chức tín dụng bán nợ cho VAMC. Khi có xảy ra tranh chấp, VAMC có quyền tự khởi kiện hoặc uỷ quyền hoặc chuyển giao quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ khởi kiện khách hàng vay.

Trong trường hợp VAMC tự khởi kiện khách hàng vay thì VAMC sẽ là nguyên đơn trong vụ án, tổ chức tín dụng bán nợ sẽ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong trường hợp VAMC uỷ quyền hoặc chuyển giao quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ khởi kiện khách hàng vay thì VAMC sẽ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và tổ chức tín dụng bán nợ sẽ là nguyên đơn trong vụ án.

- Về áp dụng lãi suất khi đương sự yêu cầu tính lãi do chậm thanh toán trong trường hợp các bên tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán hàng hóa:

Việc tính tiền lãi do chậm thanh toán phải được áp dụng theo các quy định của luật chuyên ngành tương ứng như Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Thương mại, Luật Xây dựng…Nếu luật chuyên ngành tại thời điểm ký kết hợp đồng không quy định thì mới áp dụng các quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự.

Đối với những trường hợp áp dụng Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 để quyết định về trách nhiệm chịu tiền lãi nếu chậm thanh toán. Về việc tính lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán cho đến nay chưa có hướng dẫn bằng văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có trong tài liệu tập huấn của Tòa kinh tế. Vì vậy, khi áp dụng Điều 306 Luật Thương mại, Tòa án các cấp cần phải lấy mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương để giải quyết vụ án (bao gồm Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam; Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam; Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam).

- Giải quyết vụ án khi chưa xác định được địa chỉ của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Theo quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện và trong đơn phải ghi rõ tên, địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có. Để thi hành quy định này, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại khoản 5, 6, 7 Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Trong một số trường hợp, khi khởi kiện, nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc địa chỉ được nêu trong hợp đồng  nhưng khi Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo các băn bản tố tụng cho bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ đã được cung cấp thì không thực hiện được do đương sự không không còn có mặt tại địa chỉ này nữa. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn còn cung cấp địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở một số nơi khác nữa thì Tòa án phải thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đến những địa chỉ do nguyên đơn cung cấp thêm.

Như vậy, chỉ khi nào có đủ căn cứ vững chắc cho rằng đương sự cố tình giấu địa chỉ thì mới xét xử vắng mặt. Nếu không thì phải trả lại đơn khởi kiện (nếu chưa thụ lý vụ án), hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện (nếu đã thụ lý vụ án).

Khi kiểm sát, cần phải xác định Tòa án đã làm đầy đủ thủ tục về việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự chưa, cụ thể:

Đối với cá nhân, trước hết phải thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho họ theo đúng quy định tại Điều 177 BLTTDS; đối với cơ quan, tổ chức, phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 178 BLTTDS. Nếu việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo thì thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 BLTTDS. Sau khi đã thực hiện đúng các thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng như đã nêu trên mà đương sự vẫn không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình thì căn cứ khoản 6 Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 để gaiir quyết vụ án.

 - Vi phạm việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của TAND: Tại phần quyết định của một số quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thường mắc phải một số vi phạm sau: Không tuyên nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; không tuyên cụ thể ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, làm cơ sở cho việc trừ vào thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính cho người bị áp dụng; tuyên không đúng nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đối với vi phạm này, VKSND TP. Đà Nẵng đã ban hành kiến nghị đến Chánh án TAND TP. Đà Nẵng và được TAND TP. Đà Nẵng chấp nhận, sau đó các TAND quận huyện đã chấp hành tương đối tốt. Tuy nhiên, qua quá trình kiểm sát các quyết định AD BPXLHC gần đây thì Phòng 10 phát hiện vẫn còn một số quyết định có những vi phạm trên. Do đó, khi kiểm sát đối với các quyết định AD BPXLHC, đề nghị VKSND quận huyện cần chú ý, phát hiện đối với dạng vi phạm trên để tập hợp kiến nghị TAND thực hiện cho đúng.

4. Một số khó khăn, vướng mắc:

- Về thời hạn kháng nghị được quy định tại Điều 280 BLTTDS: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.”

Thời hạn kháng nghị quyết định đình chỉ, tạm đình là từ 7 đến 10 ngày, thời hạn này là quá ngắn cho VKSND các cấp rút hồ sơ cũng như soạn thảo, ban hành kháng nghị đúng thời hạn.

- Về việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án: Một số vụ án, việc xác minh, thu thập chứng của Tòa án khi xây dựng hồ sơ vụ án chưa đảm bảo theo quy định dẫn đến hồ sơ vụ án không có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Vì vậy, khi VKSND mượn hồ sơ của Tòa án để nghiên cứu, xem xét ban hành kháng nghị gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ, thời gian ban hành kháng nghị thì có hạn, quá trình mượn được hồ sơ từ Tòa án không dễ dàng, mất nhiều thời gian. Do đó, không có đủ thời gian để Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ và ban hành kháng nghị kịp thời.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS quy định chứng cứ là: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Một số vụ án, sau khi Viện kiểm sát mượn hồ sơ và nghiên cứu thì phát hiện một số tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chỉ là bản photo không có công chứng nhưng vẫn được Tòa án xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án. Đối với những vụ án như vậy, rất khó cho KSVtrong việc nghiên cứu, đề xuất ban hành kháng nghị. Bởi lẽ, đối với các tài liệu do đương sự cung cấp là bản photo nhưng Tòa án xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án là không đúng. Do đó, khi rút hồ sơ nghiên cứu để đề xuất ban hành kháng nghị, KSVphải yêu cầu đương sự cung cấp bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp phápđể có căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc đợi đương sự cung cấp bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp phải mất thời gian, một số trường hợp đương sự không cung cấp được mà thời hạn kháng nghị thì sắp hết. Mặt khác, nếu chỉ dựa vào hồ sơ do Tòa án thu thập để đề xuất ban hành kháng nghị thì không có đủ cơ sở, một số trường hợp sau khi ban hành kháng nghị thì đương sự lại cung cấp được các tài liệu, chứng cứ hợp pháp.  Do đó, có những trường hợp, khi KSVrút hồ sơ nghiên cứu, phát hiện được những vi phạm nhưng không thể đề xuất ban hành kháng nghị được vì hồ sơ không có đầy đủ tài liệu chứng cứ hợp pháp.

  5.  Giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị:

- Nghiên cứu, nắm vững các văn bản pháp luật mới như: BLTTDS 2015, Luật TTHC 2015, Bộ luật Lao động, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND tối cao và TAND tối cao trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND tối cao và TAND tối cao trong việc thi hành một số quy định của Luật TTHC, và các văn bản hướng dẫn thi hành, …

- Kiểm sát viên cần phải thường xuyên cập nhật, nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, quy chế công tác kiểm sát, các chuyên đề, thông báo rút kinh nghiệm và học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để tích lũy kinh nghiệm trong công tác, hình thành khả năng nhạy bén, kịp thời nhận dạng được các vi phạm qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án và tham gia phiên tòa, đồng thời cũng nhằm đảm bảo thao tác nghiệp vụ được thực hiện chặt chẽ, có hệ thống, đúng quy định. 

- Bên cạnh đó cán bộ, KSV phải luôn trao dồi đạo đức, tác phong, bản lĩnh nghề nghiệp và phải có tâm yêu ngành, yêu nghề. Có như vậy việc nghiên cứu văn bản pháp luật mới được sâu, rộng và việc nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hành chính… mới đảm bảo tính chặt chẽ, khách quan và toàn diện.

- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và nêu cao ý thức tự rèn luyện của cán bộ, KSV, tạo sự chuyển biến về nhận thức là phải biết tự giác tích cực và không ngừng nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật về tố tụng, pháp luật về nội dung cũng như các văn bản hướng dẫn có liên quan, để từ đó ngày càng tự nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong việc vận dụng đúng  những quy định của pháp luật trong công tác.

 - Giữ tốt mối quan hệ phối hợp công tác đối với các cơ quan hữu quan, nhằm tranh thủ sự đồng tình và tạo điều kiện thuận cho cán bộ, KSV thực hiện các thao tác kiểm sát trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm trong công tác kháng nghị án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động của Phòng 10 xin được trao đổi nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị của Viện kiểm sát hai cấp.

Tác giả bài viết: Phòng 10

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Phần mềm quản lý án hình sự
Truyền hình kiểm sát
báo bảo vệ pháp luật
thư viện pháp luật
Quản lý án dân sự
Đại học kiểm sát
VKS Quảng Nam
Viện kiểm sát tối cao
Tạp chí kiểm sát
Hộp thư điện tử

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 84

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 80


Hôm nayHôm nay : 632

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 127792

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9646463

Bình yên trên vùng đất mới