06:04 ICT Thứ ba, 21/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Thông tin, thông báo nội bộ

RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ÁN HÀNH CHÍNH, KDTM, LAO ĐỘNG VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH CỦA TAND NĂM 2016

Thứ sáu - 28/10/2016 15:02
Trong năm 2016, qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND 02 cấp thành phố Đà Nẵng nhận thấy, tình hình tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực HC, KDTM, LĐ có sự gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp ngày càng cao, đặc biệt là tranh chấp thuộc lĩnh vực KDTM. Ngoài ra, công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của TAND cũng có số lượng lớn, gồm các vụ việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và chủ yếu là đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết án LĐ, KDTM, HC và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND 02 cấp thành phố Đà Nẵng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc. Tại Hội nghị này, Phòng 10, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát việc giải quyết án LĐ, KDTM, HC và những việc khác theo quy định của pháp luật của VKSND hai cấp thành phố Đà Nẵng để rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác kiểm sát trong thời gian tới, cụ thể như sau:

VIỆN KSND TỐI CAO

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

 

Số:    /BC-VKS-P10

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 
 
 

 


Đà Nẵng, ngày 24 tháng 10 năm 2016

 

BÁO CÁO TẠI HỘI NGHỊ TRỰC TUYẾN

VỀ RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ÁN HÀNH CHÍNH, KDTM, LAO ĐỘNG VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH CỦA TAND NĂM 2016

                                              

Trong năm 2016, qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND 02 cấp thành phố Đà Nẵngnhận thấy, tình hình tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực HC, KDTM, LĐ có sự gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp ngày càng cao, đặc biệt là tranh chấp thuộc lĩnh vực KDTM. Ngoài ra, công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của TAND cũng có số lượng lớn, gồm các vụ việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và chủ yếu là đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết án LĐ, KDTM, HC và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND 02 cấp thành phố Đà Nẵng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc. Tại Hội nghị này, Phòng 10, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát việc giải quyết án LĐ, KDTM, HC và những việc khác theo quy định của pháp luật của VKSND haicấp thành phố Đà Nẵng để rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác kiểm sát trong thời gian tới, cụ thể như sau:

I.    VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

1.  Luật Tố tụng hành chính

1.1. Việc thực hiệnquyền kiến nghị theo quy định tại Điều 25 Luật TTHC:

Viện kiểm sát đã thực hiện quyền kiến nghị đối với Tòa án và các cơ quan hữu quan khác theo quy định của luật nhưng Luật TTHC lại không quy định Tòa án buộc phải trả lời cho VKS có hay không có việc vi phạm đó để cùng khắc phục rút kinh nghiệm(Quận Hải Châu).

- Trả lời:Hiện nay, chưa có quy định rõ ràng về việc Toà án và các cơ quan hữu quan khác buộc phải trả lời kiến nghị của VKS. Điều 9 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 cũng chỉ quy định:“Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKSND; có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo các hành vi, quyết định trái pháp luật của VKSND; VKSND phải giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật. Khi có căn cứ cho rằng hành vi, quyết định của VKSND không có căn cứ, trái pháp luật thì CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án và Cơ quan thi hành án có quyền kiến nghị, yêu cầu VKSND xem xét lại” mà không có một sự ràng buộc nào để Toà án và các cơ quan hữu quan khác phải trả lời.

Do đó, khi ban hành kiến nghị, tại phần cuối của văn bản kiến nghị nên đề nghị cơ quan bị kiến nghị thông báo bằng văn bản về kết quả thực hiện cho Viện kiểm sát biết. Khi yêu cầu như vậy, các văn bản kiến nghị của Phòng 10 đều nhận được văn bản phản hồi của các cơ quan bị kiến nghị.

1.2. Về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 68Luật TTHC:

Có cần thiết quy định thêm các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như BLTTDShay không, ví dụ: Cấm chuyển dịch, cầm cố, thế chấp QSDđất đối với phần đất đang bị khiếu kiện trong vụ án hành chính. Vì Luật TTHC không quy định rõ vấn đề áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này.(Quận Hải Châu).

- Trả lời:Điều 68 Luật TTHC quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời:

1. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

2. Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.

3. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

 Như vậy, theo khoản 3 thì trong từng vụ việc cụ thể sẽ có những hành vi nhất định, do đó tùy vào từng vụ việc, xét thấy cần thiết Tòa án sẽ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết, hợp lý để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng quy định. Do đó, không cần thiết phải quy định thêm các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như BLTTDS.

1.3.Về xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 78 Luật TTHC:

Theo quy định tại Điều 147 Luật TTHC thì Tòa án gửi hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho VKS cùng cấp nghiên cứu và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, VKSphải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án. Nếu khi nghiên cứu hồ sơ VKS xét thấy Tòa án không thu thập hoặc thu thập không đầy đủ để việc giải quyết vụ án được triệt để thì VKS yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ nhưng thời gian sau 15 ngày nhận hồ sơ, VKS phải trả hồ sơ lại cho Tòa án thì không kịp thời gian mở phiên tòa và Tòa án sẽ công bố tài liệu thu thập đó tại phiên tòa do Tòa án mới nhận được hoặc không thu thập được tài liệu theo yêu cầu của VKS thì sẽ khó khăn trong giải quyết vụ án.

 Ngoài ra, cần quy định thêm thời gian Tòa án chuyển hồ sơ cho VKSvì quy định thời hạn chuyển hồ sơ như luật hiện hành sẽ không đảm bảo thời gian để VKS nghiên cứu hồ sơ, lập hồ sơ kiểm sát và trong trường hợp Tòa án thu thập chưa đầy đủ chứng cứ, VKS yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh bổ sung chứng cứ để làm rõ nội dung vụ án nhưng lại không đủ thời gian đợi kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án(Quận Hải Châu).

-Trả lời:Nếu tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố tài liệu mới thu thập được do VKS yêu cầu thì KSV tham gia phiên toà phải tiến hành xác minh chứng cứ theo yêu cầu của VKS. Nếu quá trình xác minh gặp khó khăn thì VKS có ý kiến tại phiên toà và xem xét kháng nghị sau khi có bản án của Toà án.

Nếu Toà án không thu thập được tài liệu theo yêu cầu của VKS mà tại phiên toà Kiểm sát viên xét thấy không thực hiện việc thu thập thì không thể giải quyết được vụ án thì yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 187 Luật TTHC năm 2015: “1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên toà khi có một trong các căn cứ sau:

c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa”.

VKSphải thực hiện theo qui định của luật: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, VKSphải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.

2. Luật Tố tụng dân sự

2.1. Việc trả lại đơn khởi kiện:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 193 BLTTDS thì “Trường hợp người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện”. Trong quá trình làm các thủ tục để thụ lý vụ án Thẩm phán có căn cứ để xác định bị đơn trong vụ án này không phải là chủ thể mà nguyên đơn đang khởi kiện mà là một chủ thể khác. Và Thẩm phán yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, xác định lại đúng bị đơn, nhưng nguyên đơn không làm theo yêu cầu của Thẩm phán mà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện ngay từ ban đầu đối với bị đơn đó. Vậy trong trường hợp này Thẩm phán giải quyết vụ án phải ra Quyết định trả lại đơn khởi kiện hay vẫn tiếp tục thụ lý vụ án để tiếp tục giải quyết (Huyện Hoà Vang).

Trả lời:Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì“1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.”

Khoản 2 Điều 193 BLTTDS quy định:“Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.

Như vậy, trong trường hợp này, Thẩm phán giải quyết vụ án phải ra Quyết định trả lại đơn khởi kiệnvà tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.

2.2. Về thời hạn gửi Quyết định phân công Kiểm sát viên:

Theo quy định tại Điều 3 TTLT số 04/2012 ngày 01/8/2012:“Trường hợp VKSphải tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm thông báo việc thụ lý vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 174, Điều 257 và Điều 311 BLTTDS, Viện kiểm sát phải gửi cho Tòa án văn bản phân công Kiểm sát viên, KSV dự khuyết (nếu có) tham gia phiên tòa, phiên họp”. Quy định này thật sự gây khó khăn và chưa phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Vì không phải tất cả các vụ, việc nào ngay từ khâu thụ lý VKSđã có thể nhận biết được vụ, việc nào VKS phải tham gia phiên tòa; đặc biệt là đối với những vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ (Quận Thanh Khê).

- Trả lời:   Đối với những vụ án thuộc trường hợp có VKS tham gia thì VKS yêu cầu Toà án gửi Công văn đề nghị VKS phân công KSV tham gia vụ án.

2.3. Về việc chuyển hồ sơ để Viện kiểm sát nghiên cứu tham gia phiên tòa, phiên họp và xem xét kháng nghị.

- Đối với việc chuyển hồ sơ để VKS tham gia phiên tòa, phiên họp qua thực tiễn công tác nhận thấy: Kết thúc năm công tác, Tòa án thường tập trung đưa ra giải quyết dứt điểm số án thụ lý, với lịch xét xử dày, do đó, Tòa án thường chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu thường chậm so với quy định tại Khoản 1, Điều 2 Thông tư liên tịch số 04, trong đó có một số trường hợp vụ án có tính chất phức tạp nhưng Tòa án chuyển sang cho VKS nghiên cứu không đủ 15 ngày đã gây rất nhiều khó khăn cho KSV trong quá trình nghiên cứu án (Quận Liên Chiểu, Hải Châu).

Việc quy định không ghi rõ cụ thể thời hạn Tòa án phải có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho VKS dẫn đến trường hợp các Thẩm phán đưa ra có nhiều lý do để kéo dài thời gian chuyển hồ sơ, có trường hợp đến ngày cuối cùng của thời hạn kháng nghị mới gửi hồ sơ cho VKS nên đã hạn chế việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS, có trường hợp khi Tòa án chuyển hồ sơ đến thì thời hạn kháng nghị đã hết. Bên cạnh đó cũng có những trường hợp VKS có Công văn yêu cầu chuyển hồ sơ nhưng Tòa án không thực hiện yêu cầu của VKS.

- Ngoài ra có trường hợp vụ án có VKS tham gia phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thu thập thêm tài liệu chứng cứ nhưng không gửi cho VKS nên rất hạn chế trong việc nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Quận Hải Châu).

- Trả lời:  Thông tư 02 ngày 31-8-2016 tại Điều 5 quy định cụ thể trong thời hạn 03 kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho VKS để VKS xem xét việc kháng nghị. Trường hợp VKS có Công văn yêu cầu chuyển hồ sơ nhưng Tòa án không thực hiện yêu cầu của VKS thì VKS ban hành kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm.

- Cần tập hợp ra văn bản kiến nghị Tòa án về việc Tòa án có thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nhưng không gửi cho VKS.

2.4. Về việc tạm ngừng phiên tòa.

 Theo quy định tại Điều 197 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì Tòa án phải xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục, HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc rồi mới được xét xử đến vụ khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án hoặc tuyên án một lúc cho nhiều vụ án. So sánh với BLTTDS 2015 tại Điều 225 đã sửa đổi, bổ sung Điều 197 cũ, trong đó đã bỏ cụm từ “và liên tục”. Đồng thời BLTTDS 2015 bổ sung mới quy định “Tạm ngừng phiên tòa” tại Điều 259, theo đó Toà án chỉ tạm ngừng phiên toà trong một số trường hợp cụ thể và thời hạn tạm ngừng là không quá 01 tháng, kể từ ngày HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa. Như vậy, đối với những trường hợp đang trong thời gian tạm ngừng phiên tòa thì HĐXX, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa trong vụ án đó có được tham gia xét xử hoặc tiến hành giải quyết đối với những vụ án dân sự khác hay không? Hay phải chờ đến khi phiên tòa bị Tòa án tạm ngừng được xét xử xong rồi mới tham gia phiên tòa khác? (Quận Liên Chiểu).

-Trả lời:  Về nguyên tắc, HĐXX, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa trong vụ án đó được tham gia xét xử hoặc tiến hành giải quyết đối với những vụ án dân sự khác, vì Luật TTHC năm 2015 đã bỏ quy định về nguyên tắc xét xử liên tục (Công văn số 02 ngày 19-9-2016 của TANDTC giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự)

2.5. Quy định về pháp nhân thương mại:

- Theo quy định của pháp luật hiện hành thì pháp nhân có được quyền ủy quyền cho pháp nhân hay không? Hay pháp nhân chỉ được phép ủy quyền cho cá nhân (Q.Hải Châu).

- Trả lời:  Bộ luật Dân sự mới đã chính thức cho phép một pháp nhân (chẳng hạn một công ty) có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và/hoặc thực hiện giao dịch cho mình. Theo quy định tạikhoản 1, Điều 134 “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Đây là một điểm tiến bộ so với quy định cũ. Bộ luật Dân sự 2005 dường như chỉ cho phép cá nhân là người đại diện cho cá nhân hay pháp nhân khác.Trong thực tế có rất nhiều giao dịch có thể làm phát sinh quan hệ ủy quyền giữa các pháp nhân, từ đó đặt ra nhu cầu chính đáng về hành lang pháp lý cho mối quan hệ đại diện này.

2.6Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

- Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định: “Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”.

Trong khi đó tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn về việc xác định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “4. Đối với các tranh chấp quy định tại khoản 2 Điều 29 của BLTTDS (Điều 30 BLTTDS 2015) thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 Điều 25 của BLTTDS.

Vậy tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân không có đăng ký kinh doanh và Doanh nghiệp và cả 02 đều có mục đích lợi nhuận thì thuộc tranh chấp KDTM hay Dân sự ?  (Quận Sơn Trà).

 -Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì: “ Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”. Cần hướng dẫn rõ có tranh chấp giữa các bên đều phải đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận hay chỉ cần một bên đăng ký kinh doanh mới xác định đó là vụ án KDTM. (Quận Hải Châu).

- Trả lời:  Hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào thay thế hoặc tuyên bố các Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 hết hiệu lực, nên các Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 vẫn còn được áp dụng (đối với những điểm điều luật không trái với BLTTDS 2015).

Do đó, áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn về việc xác định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì tranh chấp về KDTM không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại.

2.7. Hệ thống biểu mẫu:

- Điều 262 BLTTDS 2015 quy định về phát biểu của KSV tại phiên tòa: “Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cũng như hệ thống biểu mẫu cụ thể để KSVáp dụng trong việc ban hành các văn bản tố tụng giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính (Quận Cẩm Lệ).

- Trả lời:   Thực hiện theo biểu mẫu cũ, bổ sung thêm phần phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.

2.8. Quy định về tạm đình chỉ vụ án:

-Trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại phiên tòa thì sau khi hết lý do tạm đình chỉ, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì có ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử lại hay không? (Quận Cẩm Lệ).

- Trả lờiTheo quy định tại Điều 216 BLTTDS năm 2015 thì: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự

Như vậy, trong trường hợp này, sau khi lý do tạm đình không còn thì Tòa án chỉ ra Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

- Điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 quy định các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, vậy các trường hợp khác là trường hợp nào?. Trường hợp đương sự có người thân bị ốm hay đi công tác đột xuất có được coi là các trường hợp khác hay không? (Quận Ngũ Hành Sơn).

- Trả lời: Là các trường hợp làm căn cứ cho Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong BLTTDS này chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên.

Đây là quy định mở, mang tính dự phòng đối với những trường hợp phát sinh lý do mà Tòa án cần thiết phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự mới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

2.9. Về thời hạn gửi quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử:

- Khoản 1 Điều 203 BLTTDS 2015 quy định: Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử… nhưng chưa thấy văn bản nào quy định thời hạn gửi quyết định nên dẫn đến việc Tòa án không gửi hoặc gửi chậm cho VKS và đương sự (Quận Ngũ Hành Sơn).

- Trả lời:  Hiện nay chưa có văn bản nào quy định thời hạn Tòa án gửi quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử cho Viện kiểm sát. Do đó, trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên nên chủ động kiểm sát, theo dõi việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 BLTTDS và chủ động yêu cầu Tòa án gửi quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử cho Viện kiểm sát khi phát hiện có vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án.

 2.10. Quyền và nghĩa vụ của đương sự

- Khoản 9 Điều 70 BLTTDS năm 2015 quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự: “Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có” (Quận Sơn Trà).

Vậy trường hợp nguyên đơn không gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho bị đơn hoặc ngược lại thì xử lý thế nào?

- Trả lời:  Trong trường hợp này, Tòa án giải thích hướng dẫn cho đương sự là họ có nghĩa vụ phải gửi cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có.

Trường hợp tài liệu chứng cứ chưa được gửi cho cho đương sự thì tòa án thực hiện việc thông báo cho họ biết để họ thực hiện quyền tiếp cận chứng cứ.

2.11. Yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập:

- Khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS quy định: bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Vậy bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy? (Quận Sơn Trà).

Quy định trên hiện nay có 02 quan điểm:

Quan điểm 1: Bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất.

Quan điểm 2: Bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ hai.

Xét thấy quy định nêu trên hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn bởi lẽ khi Tòa án chưa mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thể biết hết được được nội dung vụ án như thế nào, và gần như người dân (trừ Luật sư) không ai biết được mình chỉ được quyền đưa ra yêu cầu phản tố, đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Hơn nữa chưa tiến hành hòa giải thì không biết được các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không để bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập.

- Trả lời:  Theo Điều 210 BLTTDS về Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thìsau khi các đương sự đã trình bày xong,Thẩm phán tiến hành hòa giải, Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có).

Như vậy, lúc này bị đơn, người có quyền lợi, quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã biết hết được được nội dung vụ án nên bị đơn phải đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập của mình.

2.12. Việc áp dụng pháp luật trong tố tụng dân sự:

- Hiện nay các Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 có tiếp tục được áp dụng hay không (điểm điều luật không trái với BLTTDS 2015)(Quận Sơn Trà).

- Trả lời:  Hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào thay thế hoặc tuyên bố các Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011hết hiệu lực nên các Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 vẫn còn được áp dụng (đối với những điểm điều luật không trái với BLTTDS 2015).

II. VỀ NỘI DUNG GIẢI QUYẾT ÁN HÀNH CHÍNH, KDTM, LAO ĐỘNG

1.  Đối với việc giải quyết các vụ án Hành chính: Các VKS quận huyện không có yêu cầu giải đáp vướng mắc.

2.  Đối với việc giải quyết các vụ án KDTM:

2.1. Về xác định tranh chấp án kinh doanh thương mại hay dân sự:

- Tại Khoản 5 Điều 30 quy định Toà án có thẩm quyền giải quyết “các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại”. Do quy định trên chưa rõ ràng, nên thực tế có những vụ án nguyên đơn là Ngân hàng thương mại kiện đòi nợ thông qua Hợp đồng tín dụng với bị đơn là cá nhân, khó xác định là án KDTM hay dân sự. Nếu xác định mục đích lợi nhuận để phân biệt tranh chấp được giải quyết bằng vụ án kinh doanh, thương mại hay bằng vụ án dân sự thì đối với trường hợp Ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình vay theo hợp đồng tín dụng, việc xác định mục đích lợi nhuận và mục đích tiêu dùng là rất khó; căn cứ vào đâu để xác định mục đích vay: Do đương sự trình bày, thể hiện trên hợp đồng, chứng cứ khác… Ví dụ: Ngân hàng cho cá nhân vay tiền, trong hợp đồng ghi mục đích vay là để xây nhà, tuy nhiên nếu xây nhà để ở thì là tranh chấp về dân sự, còn xây nhà để kinh doanh phát sinh lợi nhuận là tranh chấp về KDTM. Do đó, nhiều trường hợp rất khó để xác định được có phải là tranh chấp về KDTM hay không? (Quận Liên Chiểu).

 - Trả lời: Luật đã qui định mục đích lợi nhuận là căn cứ để phân biệt tranh chấp được giải quyết bằng vụ án kinh doanh, thương mại hay bằng vụ án dân sự. Vi vậy cần phải nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xác định mục đích lợi nhuận làm căn cứ phân biệt tranh chấp được giải quyết bằng vụ án kinh doanh, thương mại hay bằng vụ án dân sự.

2.2. Về lãi suất:

- Đối với vụ án KDTM về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, tại các hợp đồng tín dụng quy định về các điều khoản vay, ngoài lãi suất vay trong hạn, lãi suất vay quá hạn trong đó còn có quy định về khoản tiền phạt chậm trả lãi khi bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho bên cho vay. Như vậy có được xem là lãi chồng lãi hay không? Có vi phạm quy định của BLDS về lãi suất hay không? Và hướng giải quyết cụ thể đối với khoản tiền chậm trả lãi này là như thế nào? (Quận Cẩm Lệ).

Trả lời:  Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng. Do đó, khi nhận đơn khởi kiện (và trong quá trình giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của Ngân hàng) mà trong đó có yêu cầu về việc buộc khách hàng vay phải chịu khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng thì nên giải thích để Ngân hàng xem xét có tiếp tục yêu cầu Tòa án buộc khách hàng vay phải chịu khoản tiền phạt theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hay không, nếu Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xem xét việc buộc khách hàng vay chịu khoản tiền phạt nữa thì Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

Nếu Ngân hàng vẫn có yêu cầu Tòa án buộc khách hàng vay phải chịu khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng tín dụng thì nên tách yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết bằng vụ án khác khi có hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về vấn đề này.

2.3. Về án phí KDTM:

- Theo quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí, mức tạm ứng án phí phúc thẩm đối với vụ án KDTM chỉ là 200.000 đồng. Trong nhiều bản án KDTM với giá trị tranh chấp lên đến vài tỉ đồng thì mức tạm ứng án phí này là quá thấp, có nhiều đương sự muốn kéo dài thời gian thanh toán nợ nên đã lợi dụng quy định mức tạm ứng án phí thấp, bỏ ra 200.000 đồng để đạt được mục đích, tránh phải thi hành bản án sơ thẩm có hiệu lực. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc thi hành bản án và kéo dài thời gian giải quyết án. (Quận Thanh Khê).

- Trả lời:  BLTTDS đã qui định tại Điều 17 bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cho nên đương sự làm đúng theo qui định về kháng cáo. Việc mức tạm ứng án phí phúc thẩm đối với vụ án KDTM thấp chỉ là 200.000 đồng thì cần góp ý đề xuất sửa đổi..

2.4. Giao dịch dân sự vô hiệu:

- Trong vụ án KDTM tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP ACB và Doanh nghiệp tư nhân, Ngân hàng yêu cầu Doanh nghiệp trả 1 tỷ, trường hợp không trả được nợ thì phát mãi tài sản thế chấp là ngôi nhà (150 m2) và đất (170 m2) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của chủ Doanh nghiệp (ông Nhân). Khi xem xét thẩm định tại chỗ thì phát hiện ông Nhân đã bán một phần nhà (30 m2) cho ông A, bán một phần nhà cho ông B (40 m2), cả 02 đều mua bán viết tay trước thời điểm thế chấp và gia đình ông A, gia đình ông B đã ở ổn định được 07 năm. Do vậy Ngân hàng ACB yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà giữa ông Nhân với ông A, giữa ông Nhân với ông B vô hiệu. Ông A, ông B thì yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nhân vô hiệu (yêu cầu độc lập).

- Vậy trong vụ án KDTM này có được tiếp tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ACB yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà giữa ông Nhân với ông A, giữa ông Nhân với ông B vô hiệu hay không?

- Có được thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nhân vô hiệu hay không hay phải bắt buộc hướng dẫn cho Ngân hàng, ông A, ông B khởi kiện vụ kiện dân sự khác.

- Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nhân có vô hiệu hay không? (Q.Sơn Trà).

Trả lời:    Trong vụ án KDTM này vẫntiếp tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ACB yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán nhà giữa ông Nhân với ông A, giữa ông Nhân với ông B vô hiệu.

- Theo qui định thì Tòa ánthụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nhân vô hiệumà không phải bắt buộc hướng dẫn cho Ngân hàng, ông A, ông B khởi kiện vụ kiện dân sự khác.

- Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nhân là vô hiệu bởi vì: Theo Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

3.  Đối với việc giải quyết các vụ án Lao động: Các VKS quận huyện không có yêu cầu giải đáp vướng mắc.

III. KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XLHC CỦA TAND

1. Về thẩm quyền của Viện kiểm sát khi tham gia xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 quy định “Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này”, tuy nhiên tại chương III của Pháp lệnh lại không có điều luật quy định thành phần tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Do đó trong quá trình Tòa án xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có thể mời hoặc không mời Viện kiểm sát tham gia, dẫn đến việc áp dụng khoản 2, Điều 4 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 chưa được thống nhất. (Quận Thanh Khê).

Trả lời:  Việc Tòa án xem xét, quyết định việc hoãn, miễn chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại cần phân biệt 02 nội dung:

- Xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành biện pháp xử lý hành chính

- Xem xét, quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gianáp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.

Cả hai trường hợp trên, Tòa án không tổ chức phiên họp mà chỉ do Thẩm phán sau khi xem xét hồ sơ kèm theo đơn, đề nghị ra một trong các quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn, đề nghị nên không có KSV tham gia. (Điều 26, 27 Pháp lệnh 09). Tuy nhiên Điều 26, 27 Pháp lệnh 09 qui định trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ kèm theo đơn đề nghị, Tòa án phải thụ lý và phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết, đồng thời thông báo cho cơ quan đề nghị và Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định; trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản trước khi Tòa án ra quyết định.

Cần phải hiểu đúng tinh thần của khoản 2, Điều 4 của Pháp lệnh số 09:  Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này.

2. Về việc xác định người không có nơi cư trú ổn định: Theo Luật Cư trú thì không có điều luật quy định thế nào là người không có nơi cư trú ổn định, tuy nhiên theo nội dung của Công văn 11192/UBNDVX ngày 06/12/2014 của UBNDTP Đà Nẵng thì “Đối với người nghiện ma túy có nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú (có văn bản xác nhận của Công an nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú) thì vẫn được xác định là người không có nơi cư trú ổn định”. Quá trình áp dụng xét thấy có nhiều vướng mắc, cụ thể: Người có đăng ký thường trú, tạm trú nhưng tính chất công việc thường xuyên phải xa nhà như làm xây dựng đi theo công trình, lái xe ô tô tuyến ngoài thành phố Đà Nẵng, ngư dân tham gia đánh bắt hải sản trên biển, khách đi du lịch… đối với những trường hợp này nếu chỉ dựa vào văn bản xác nhận của Công an nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú, nơi xảy ra hành vi vi phạm thì khó có thể xác định được người đó có nơi cư trú ổn định hay không.

- Trả lời:  Những người có đăng ký thường trú, tạm trú nhưng tính chất công việc thường xuyên phải xa nhà như làm xây dựng đi theo công trình, lái xe ô tô tuyến ngoài thành phố Đà Nẵng, ngư dân tham gia đánh bắt hải sản trên biển, khách đi du lịch… đối với những trường hợp này nếu chỉ dựa vào văn bản xác nhận của Công an nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú, nơi xảy ra hành vi vi phạm thì không thể xác định người đó không có nơi cư trú ổn định.Trường hợp này nếu qua xác minh người đó đã bị áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã phường thì mới xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu không có thì chuyển hồ sơ về địa phương nơi cư trú để áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, phường.

3. Điểm g khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì giao cho gia đình quản lý; đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì giao cho các tổ chức xã hội quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định này còn nhiều bất cập bởi tâm lý người nghiện khi biết bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thường có tâm lý trốn tránh các cơ quan chức năng nên trong thời gian đó họ không muốn cai nghiện mà bỏ trốn sẽ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết. Hơn nữa, gia đình và các tổ chức xã hội đa phần đều không có chuyên môn về y tế, cơ sở vật chất kỹ thuật…khi người nghiện ma túy lên cơn nghiện thì sẽ không biết cách xử lý.(Quận Ngũ Hành Sơn)

Trả lời: Nghiện ma túy là tên nan xã hội. Luật qui định như vậy là để xác định trách nhiệm của gia đình, cộng đồng, tổ chức, cơ quan Nhà nước cùng tham gia công tác cai nghiện ma túy.

4. Thời gian lập hồ sơ đề nghị Tòa án  xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thời gian chuẩn bị mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là rất ngắn trong khi đó tiền án của người bị đề nghị không phải là tình tiết tăng nặng khi xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vậy có bắt buộc phải xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu để xác định chính xác tiền án của người bị đề nghị hay không?  (Quận Sơn Trà)

Trả lờiNếu có đủ cơ sở pháp lý thì Tòa án dùng làm căn cứ xem xét cân nhắc tăng thời gian cai nghiện. Nếu chưa có đủ cơ sở pháp lý thì không đặt vấn đề tình tiết tăng nặng. Cơ quan lập hồ sơ phải xác minh nếu không xác minh được thì có văn bản giải trình kèm theo.

IV. NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ LÀM TỐT CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT ÁN HÀNH CHÍNH, KDTM, LAO ĐỘNG VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

- Tăng cường quán triệt việc nghiên cứu, nắm chắc những quy định của Luật, Thông tư liên tịch, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, các hướng dẫn và thông báo rút kinh nghiệm của Vụ nghiệp vụ và các VKS cấp cao. Tham khảo các tài liệu hướng dẫn của ngành bạn.

- Thường xuyên tổ chức tham dự phiên tòa, rút kinh nghiệm ở cả 2 cấp để nâng cao kỹ năng cho cán bộ, Kiểm sát viên.

- Phối hợp tốt với Tòa án, trao đổi trực tiếp hoặc đề ra các yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để giải quyết vụ án. Đặc biệt là các vụ án liên quan đến quản lý nhà nước về đất đai.

-  Quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ tại chỗ. Phân công cán bộ theo mảng công việc có tính chuyên sâu, theo từng chuyên đề.Tổ chức thực hiện ngày pháp luật vào thứ 5 hàng tuần, thảo luận, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án.

- Tăng cường và nâng cao hiệu quả chất lượng công tác kháng, kiến nghị. Đảm bảo hình thức và nội dung kháng nghị có căn cứ, đúng pháp luật, được Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận bảo vệ. Đối với vụ án có quan điểm khác nhau luôn chủ động báo cáo xin ý kiến Lãnh đạo cấp trên.Do luật định thời hạn kháng nghị quá ngắn cho nên trong quá trình kiểm sát việc giải quyết một vụ án cụ thể, Kiểm sát viên cần nghiên cứu ghi chép cẩn thận những vi phạm của Tòa án trong từng giai đoạn từ khi thụ lý đến khi xét xử xong. Sau khi xét xử, trong khi chờ nhận bản án, KSV phải tổng hợp phân tích rõ các vi phạm và căn cứ pháp luật để báo cáo đề xuất với lãnh đạo xem xét kháng nghị. Nếu Lãnh đạo đồng ý thì dự thảo kháng nghị trước, khi nhận được bản án thì KSV đối chiếu sửa chữa cho phù hợp để trình ký, ban hành kháng nghị đúng thời hạn.

- Tăng cường công tác tham mưu giúp cấp ủy chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc kiểm sát chặt chẽ các quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khởi kiện. Kịp thời phát hiện các sai phạm, phối hợp với ngành bạn  xây dựng chỉ tiêu đình chỉ trong án hành chính, chủ động tham mưu cho chính quyền khắc phục, sửa sai, hủy bỏ các quyết định hành chính hoặc chấm dứt các hành vi hành chính có vi phạm nhằm ổn định tình hình chính trị địa phương.

- Đối với việc áp dụng biện pháp hành chính tại Toà án: Định kỳ tổ chức họp liên ngành để cùng bàn bạc, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.                                  

Cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại TAND cho người dân, quyền và nghĩa vụ của họ khi họ hay người thân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.Cần hệ thống hoá các văn bản luật trong lĩnh vực này nhằm thuận lợi cho việc áp dụng các quy định của pháp luật được thống nhất.

Trên đây là báo cáo tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát việc giải quyết án LĐ, KDTM, HC và những việc khác theo quy định của pháp luật  tại Hội nghị trực tuyến về rút kinh nghiệm và chất lượng kháng nghị phúc thẩm án Dân sự, HNGĐ, Hành chính, KDTM, lao động năm 2016 của VKSND hai cấp thành phố Đà Nẵng để rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác kiểm sát trong thời gian tới ./.

 

 

 

Nơi nhận:                                                                                    

-  Như trên;                                                

-  Lưu.

 

 

           TL.VIỆN TRƯỞNG

            TRƯỞNGPHÒNG

     

 

 

 

 

                       Lê Ra

Tác giả bài viết: Lê Ra

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Truyền hình kiểm sát
thư viện pháp luật
Quản lý án dân sự
báo bảo vệ pháp luật
Đại học kiểm sát
VKS Quảng Nam
Tạp chí kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
Phần mềm quản lý án hình sự
Hộp thư điện tử

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 85

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 81


Hôm nayHôm nay : 633

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 127793

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9646464

Bình yên trên vùng đất mới