18:52 ICT Thứ sáu, 22/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Kiến nghị rút kinh nghiệm trong giải quyết án hình sự

Thứ năm - 10/11/2016 15:33
Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự phúc thẩm, thấy một số sai phạm về xử lý tang vật trong việc giải quyết vụ án hình sự cần trao đổi rút kinh nghiệm trong giải quyết án hình sự.

1/ Vụ án Nguyễn Văn Hậu và đồng bọn phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” 

Tại Bản án sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn Hậu, Lương Hải, Cao Minh Trí, Nguyễn Văn Mỹ và Trần Đình Huy phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”…; Về tang tài vật thu giữ của các bị cáo, Bản án tuyên trả  mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS 43F1-222.30 (đứng tên chủ sở hữu là bị cáo Trần Đình Huy theo Giấy chứng nhận do Công an quận Liên Chiểu cấp ngày 15/8/2012) cho ông Trần Thanh Hùng là cha bị cáo Huy; trả xe mô tô Yamaha Exciter BKS 43F1-102.61 (đứng tên chủ sở hữu là bị cáo Cao Minh Trí theo Giấy chứng nhận do Công an quận Liên Chiểu cấp ngày 20/7/2015) cho bà Đặng Thị Ba là mẹ của bị cáo Trí.

Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng, bị cáo Hùng và bị cáo Trí đều có lời khai xe mô tô do gia đình mua cho các bị cáo đứng tên làm chủ sở hữu. Lời khai các bị cáo phù hợp với Giấy giấy chứng nhận đứng tên các bị cáo là chủ sở hữu và phù hợp với lời trình bày đại diện gia đình các bị cáo.

Căn cứ Điều 167 BLDS về đăng ký quyền sở hữu tài sản; Điều 168 BLDS về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản; Điều 234 BLDS về xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận; và quy định tại các Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010, Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an về đăng ký xe, thì kể từ thời điểm các bị cáo tiến hành đăng ký chủ sở hữu tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp Giấy chứng nhận thì các bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô do mình đăng ký.

Thời điểm Cao Minh Trí và Trần Đình Huy sử dụng xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của mình làm phương tiện phạm tội, Cao Minh Trí và Trần Đình Huy là người thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự và hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó Cao Minh Trí và Trần Đình Huy phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cá nhân theo đúng quy định pháp luật. Theo đó, xe mô tô BKS 43F1-102.61 và xe mô tô BKS 43F1-222.30 là phương tiện phạm tội phải “bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước” theo đúng quy định tại Điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Việc Cơ quan điều tra lại ra Quyết định xử lý vật chứng số 36/CSĐT ngày 11/3/2016 trả hai xe mô tô là phương tiện phạm tội thuộc sở hữu của các bị cáo cho bà Ba, ông Hùng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, trái quy định pháp luật dân sự về quyền sở hữu và làm thất thoát nguồn thu công quỹ Nhà Nước.

Nhưng Bản án  HSST số 36/2016/HSST ngày 19.05.2016 của Toà án nhân dân quận L đã sai lầm trong việc áp dụng pháp luật về xử lý vật chứng khi nhận định “Những vật chứng của vụ án đã được Cơ quan CSĐT công an quận L trả lại cho chủ sở hữu theo quyết định xử lý vật chứng số 36/CSĐT ngày 11/3/2016 là phù hợp nên HĐXX không đề cập đến”.

2/ Vụ án Lê Phạm Tuấn Kiệt phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” 

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và biên bản phiên tòa sơ thẩm thấy rằng bị cáo khai số tiền 5.000.000đ là tiền bị cáo vay mượn sử dụng không liên quan đến việc mua bán ma túy; hồ sơ vụ án không có chứng cứ chứng minh số tiền 5.000.000đ là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tộihoặc có nguồn gốc do phạm tội mà có. Do đó tại phiên tòa sơ thẩm VKS sơ thẩm đề nghị quy trữ số tiền này để đảm bảo thi hành án là thỏa đáng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ số tiền 5.000.000đ của bị cáo khi không có đủ chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS là không có căn cứ.

Mặt khác, Điều 18 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 07 năm 2015 về quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật thi hành án dân sự ngày 2015 thì trong trường hợp cần thiết, Toà án cần tạm giữ giấy tờ, tài sản để thi hành án; Bản án sơ thẩm tuyên hình phạt bổ sung đối với bị cáo là 15.000.000đ, nhưng lại không quy trữ chiếc điện thoại Iphone 6S của bị cáo để đảm bảo thi hành án mà tuyên trả cho bị cáo là chưa phù hợp.

Tác giả bài viết: Tường Vy - Phòng 7

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Phần mềm quản lý án hình sự
Hộp thư điện tử
báo bảo vệ pháp luật
VKS Quảng Nam
Quản lý án dân sự
Tạp chí kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
Truyền hình kiểm sát
Đại học kiểm sát
thư viện pháp luật

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 33


Hôm nayHôm nay : 5061

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138230

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9228278

Bình yên trên vùng đất mới