18:04 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Kinh nghiệm kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp di sản thừa kế

Thứ tư - 22/02/2017 15:18
Trong những năm gần đây, các loại tranh chấp trong quan hệ dân sự gia tăng, trong đó tranh chấp về di sản thừa kế và việc giải quyết loại án này luôn là mối quan tâm của xã hội, thậm chí gây bức xúc khi có những vụ việc phải giải quyết nhiều lần, qua nhiều cấp xét xử do khiếu kiện gay gắt, kéo dài.

Sự phức tạp của tranh chấp thừa kế được biết đến bởi nhiều nguyên nhân, nhưng phải kể đến hai nguyên nhân chủ yếu đó là:

- Do các chủ thể tham gia quan hệ chia thừa kế (cha, mẹ, anh, em, những người thân thích, ruột thịt trong gia đình, dòng tộc…), quan hệ tranh chấp thừa kế có thể liên quan đến một vài người, song cũng có thể liên quan đến rất nhiều người trong gia đình, họ tộc; do đó tranh chấp tài sản thừa kế rất dễ phá vỡ tình cảm gia đình, họ tộc, thậm chí dẫn đến sự xuống cấp về đạo đức trong xã hội nếu không được giải quyết khách quan, thấu tình, đạt lý.

- Do hạn chế của pháp luật nước ta trước đây còn thiếu hoặc quy định chưa đầy đủ về thủ tục đăng ký, quản lý tài sản, thủ tục giao, cấp đất; việc thực hiện không đúng trình tự, thủ tục trong kê khai, đăng ký của người dân, trong giao, cấp đất của cơ quan có thẩm quyền; việc giải toả, đền bù, chỉnh trang đô thị… dẫn đến việc xác định nguồn gốc của di sản khi giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp, khó khăn hơn.

Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế đòi hỏi Kiểm sát viên ngoài hiểu biết về tâm lý con người, tâm lý xã hội còn cần nắm vững chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự (BLDS), các văn bản hướng dẫn và nghiên cứu áp dụng các văn bản pháp luật có liên quan như pháp luật về sở hữu, về hôn nhân gia đình, về đất đai…

Trong những năm qua, đặc biệt từ khi Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 có hiệu lực, phạm vi kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự của Viện kiểm sát được mở rộng, Viện kiểm sát tham gia phiên toà nhiều hơn. Hầu hết các vụ án tranh chấp di sản thừa kế đều có đối tượng là bất động sản nên có sự tham gia của Kiểm sát viên (trực tiếp nghiên cứu hồ sơ và tham gia kiểm sát tại phiên toà…). Thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát đã đảm bảo để các vụ việc dân sự nói chung và án thừa kế nói riêng được giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật, hơn thế nữa đã kịp thời phát hiện nhiều vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp di sản thừa kế để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo thống kê hàng năm cho thấy số lượng án trong đó có tranh chấp di sản thừa kế sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa, huỷ còn nhiều (tỷ lệ 40 đến 45%) nhưng số vụ, việc có kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát các cấp chưa nhiều. Từ thực trạng này, công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự nói chung và kiểm sát giải quyết án tranh chấp thừa kế nói riêng cần cố gắng, nỗ lực trên nhiều phương diện, trong đó việc nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, việc tích luỹ kinh nghiệm của mỗi Kiểm sát viên là vấn đề cần thiết và quan trọng hàng đầu.

Để thực hiện tốt chức năng khi kiểm sát loại án “đặc biệt” này, việc làm đầu tiên của Kiểm sát viên là nắm vững và áp dụng đúng các văn bản pháp luật, nghiên cứu và áp dụng các văn bản hướng dẫn, giải thích pháp luật tương đương. Trong lĩnh vực giải quyết án tranh chấp về thừa kế, cần lưu ý những văn bản chủ yếu sau: Thông tư số 81/TANDTC ngày 24.7.1981 của Toà án nhân dân Tối cao (TANDTC) hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế được áp dụng từ ngày 24.7.1981 đến ngày 10.9.1990; Pháp lệnh thừa kế được thi hành từ ngày 10.9.1990 đến ngày 01.7.1996; Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 19.10.1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế; Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.1996 đến ngày 01.01.2006; Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 10.8.2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; BLDS năm 2005; BLDS năm 2015.

Đồng thời, cần lưu ý đến các văn bản liên quan đến việc đăng ký quản lý tài sản nói chung và bất động sản nói riêng bởi các đối tượng tranh chấp trong án thừa kế hầu hết là bất động sản.

Ngoài việc nghiên cứu, nắm vững các căn cứ pháp luật, văn bản, chính sách của Nhà nước qua từng thời kỳ, khi nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử vụ án tranh chấp thừa kế, Kiểm sát viên cần phải làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định thời điểm mở thừa kế, đây là vấn đề có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết loại án này, vì:

Thời điểm mở thừa kế cho phép xác định người được hưởng di sản thừa kế. Theo quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005 thì “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. Như vậy, chỉ có người còn sống vào thời điểm mở thừa kế mới được hưởng thừa kế.

Thời điểm mở thừa kế giúp xác định thời điểm người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại - Điều 636 BLDS năm 2005 (BLDS năm 2015 còn bổ sung người thừa kế còn có thể được hưởng quyền khác đối với tài sản như quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt).

          Thời điểm mở thừa kế cũng giúp xác định đúng thời hiệu đối với những vấn đề của thừa kế như: Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác định quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm (BLDS năm 2015 quy định là 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản), thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, thời hiệu từ chối nhận di sản là 06 tháng theo quy định của BLDS năm 2005 (BLDS năm 2015 quy định “việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”).

Thời điểm mở thừa kế cũng là thời điểm di chúc của người để lại di sản có hiệu lực.

Trong thực tiễn xét xử có trường hợp người quản lý di sản giả mạo giấy chứng tử, khai không đúng ngày chết của người để lại di sản nhằm chứng minh thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế không còn để chiếm đoạt tài sản mà mình đang quản lý hoặc Toà án xác định ngày chết của người để lại di sản không thống nhất như trường hợp tuyên bố một người là đã chết thì có Toà án xác định ngày chết là ngày ra quyết định, có Toà án xác định ngày chết là ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, có Toà án lại xác định ngày chết là ngày sau thời hạn 05 năm kể từ khi biệt tích… Như vậy, việc xác định thời điểm thừa kế không đúng, không thống nhất đã làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.

Thứ hai, xác định đúng, đầy đủ di sản thừa kế: Để giải quyết vụ án chia thừa kế, Kiểm sát viên cần xác định rõ di sản thừa kế gồm những gì? Nguồn gốc di sản, quá trình biến đổi, thực trạng từng loại di sản; nghĩa vụ dân sự của người chết trước khi để lại di sản; khi phân chia di sản cần xem xét công sức duy trì, bảo quản, phát triển tài sản là di sản của người trực tiếp quản lý di sản, công sức của người chăm sóc người để lại di sản, việc ma chay, giỗ, tết…liên quan đến người để lại di sản…

Việc xác định di sản thừa kế trên cơ sở quy định của pháp luật bao gồm: tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác có thể là phần tài sản nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với người khác phụ thuộc vào cách thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu đó.

Xác định được giá trị của tài sản tranh chấp, xác định được thực tế khối tài sản đó đang được quản lý và sử dụng như thế nào. Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều vụ án chia thừa kế bị huỷ nhiều lần vì khi giải quyết, toà án không xem xét kỹ nguồn gốc, sự chuyển dịch theo thời gian, những biến động của tài sản là di sản trong quá trình thực hiện các chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ, thậm chí không xem xét đến những tài sản (không phải là di sản) đang tồn tại, hiện hữu trong khối tài sản có tranh chấp hoặc phân chia di sản không phù hợp với thực tế và nhu cầu của đương sự như: tài sản có thể chia bằng hiện vật nhưng chỉ giao cho một bên sở hữu, sử dụng khi người này không có khả năng trích trả giá trị cho các thừa kế khác trong khi có đương sự khác cũng có yêu cầu được phân chia hiện vật (hiện vật có thể chia được mà không làm mất đi giá trị sử dụng) dẫn đến khó khắn, vướng mắc khi thi hành án.

Thứ ba,xác định những người thuộc diện thừa kế được hưởng di sản theo pháp luật (các hàng thừa kế), người thừa kế bắt buộc, người bị truất quyền thừa kế, người từ bỏ quyền thừa kế, thừa kế thế vị, các trường hợp khác như con nuôi, con riêng, con ngoài giá thú, vợ (chồng) khi áp dụng chính sách cán bộ miền Nam đi tập kết… Việc xác định rõ, đầy đủ người thuộc diện thừa kế là vấn đề quan trọng bởi thực tế có trường hợp khi giải quyết tranh chấp thừa kế toà án xác định không đầy đủ người thuộc diện thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người này.

Thứ tư, giải quyết án thừa kế theo di chúc trước hết phải xem xét tính hợp pháp của di chúc: Là di chúc miệng thì có đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 651, khoản 5 Điều 652 BLDS năm 2005 không; là di chúc bằng văn bản (trường hợp không có người làm chứng thì phải tuân thủ quy định tại Điều 655, có người làm chứng  - Điều 656; có công chứng hoặc chứng thực - Điều 657, lập di chúc tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn - Điều 658 của BLDS năm 2005.

Nếu xác định di chúc là hợp pháp, được chấp nhận thì phải chú ý đến trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc.

Đối với người không biết chữ, người bị hạn chế về thể chất, xem xét tính hợp pháp của di chúc phải dựa trên các quy định của pháp luật về hình thức của loại di chúc miệng.

Thứ năm, xác định rõ nguyên nhân dẫn đến tranh chấp; tâm tư, nguyện vọng, điều kiện, hoàn cảnh của các đương sự để phân chia di sản cho phù hợp. Khi phân chia di sản cần lưu ý đến quy định về hạn chế phân chia di sản tại Điều 686 BLDS năm 2005 (Điều 661 BLDS năm 2015 bổ sung “Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Toà án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm”).

Thứ sáu, yêu cầu cuối cùng đối với Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các vụ, việc dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp di sản thừa kế nói riêng là việc lựa chọn, xác định căn cứ pháp luật phù hợp để áp dụng trong từng vụ án cụ thể.

Tranh chấp di sản thừa kế là loại án luôn được dư luận xã hội quan tâm bởi tính đặc thù đó là quan hệ tình cảm giữa những người cùng huyết thống, giữa vợ chồng, họ hàng dòng tộc vì vậy kiểm sát viên cần phải trang bị cho mình kiến thức về xã hội, về pháp luật cùng một bản lĩnh vững vàng để có thể kiểm sát, giải quyết tốt loại án này trong thời gian sắp tới.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Trâm- Phòng 9

Nguồn tin: Tạp chí kiểm sát số 02/2017

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Đại học kiểm sát
Tạp chí kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự
Quản lý án dân sự
VKS Quảng Nam
Viện kiểm sát tối cao
Hộp thư điện tử
thư viện pháp luật
Truyền hình kiểm sát
báo bảo vệ pháp luật

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 44

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 43


Hôm nayHôm nay : 4481

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 161138

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9679809

Bình yên trên vùng đất mới