18:56 ICT Thứ sáu, 22/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Kỹ năng cơ bản của Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát việc “đối chất” theo quy định BLTTHS năm 2015

Thứ hai - 25/07/2016 21:53
(Kiemsat.vn) - Giai đoạn điều tra góp phần quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát hiện chính xác, kịp thời mọi hành vi phạm tội và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Quá trình cải cách tư pháp ở nước ta luôn đặt trách nhiệm rất lớn với Viện kiểm sát trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn điều tra nói riêng.

Tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nêu: “Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt. giữ. Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình”.

Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” một lần nữa nhấn mạnh: “… Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp…, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”.

Nhắm thể chế hóa chủ trương của Đảng, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Viện kiểm sát và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua, nhất là tăng cường trach nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, ngoài 02 hoạt động bắt buộc có sự tham gia của Kiểm sát viên hiện nay là hoạt động khám nghiệm hiện trường và hoạt động khám nghiệm tử thi, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm 05 trường hợp bắt buộc Kiểm sát viên phải tham gia để thực hiện kiểm sát trong hoạt động điều của Cơ quan điều tra.

Trước đây, BLTTHS năm 2003 đã có quy định các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra như đối chất, nhận dạng, khám xét nhưng không quy định Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát các hoạt động nói trên của Cơ quan điều tra.

Qua thực tiễn thi hành cho thấy các hoạt động điều tra nêu trên có ý nghĩa rất lớn trong việc thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật, giải quyết mâu thuẫn, kiểm tra tài liệu thu thập được làm căn cứ giải quyết vụ án, trong đó đặc biệt là hoạt động khám xét, việc không có Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát nên rất nhiều vụ án đã bị oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Do đó tại các Điều 189, 190 của BLTTHS năm 2015 đều quy định trước khi tiến hành đối chất, nhận dạng thì Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát; trên cơ sở đó, Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát, nếu vắng mặt thì ghi rõ lý do vào biên bản.

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu về một số kỹ năng cơ bản của Kiểm sát viên khi thực hiện quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia đối chất trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra:

Thứ nhất, về quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia đối chất trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong BLTTHS năm 2015

“Đối chất” được quy định tại Điều 189 BLTTHS năm 2015. Theo đó, Điều 189 có cấu trúc chia làm thành 05 khoản như sau:

- Khoản 1 quy định về căn cứ để đối chất và kiểm sát việc đối chất; khoản này có sửa đổi, bổ sung nêu cụ thể, rõ ràng trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người “mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn” thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước đây BLTTHS năm 2003 chỉ quy định “trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người thì Điều tra viên tiến hành đối chất”. 

Đáng chú ý là tại khoản 1 Điều 189 BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể: Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.

- Khoản 2 Điều 189 bổ sung quy định: “Trước khi đối chất”, Điều tra viên phải giải thích cho người làm chứng hoặc bị hại tham gia đề cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Trước đây BLTTHS năm 2003 chỉ quy định chung chung là “nếu có người làm chứng hoặc người bị hại tham gia đối chất thì “trước tiên” Điều tra viên phải giải thích cho họ...”.

- Khoản 3 Điều 189 bổ sung quy định về nội dung, cách thức hỏi đối chất. Theo đó, điều luật đã bổ sung thêm nội dung trong quá trình đối chất cho cụ thể, rõ ràng hơn và Điều tra viên phải thực hiện, đó là: “Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan”.

- Khoản 4 quy định hình thức lập biên bản, trong đó đã bổ sung thêm hình thức ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh: “việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh”.

- Khoản 5 quy định căn cứ Kiểm sát viên tiến hành tổ chức đối chất. Theo đó: Đối chất là một biện pháp thu thập chứng cứ theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm mục đích xác định tính xác thực của tình tiết vụ án. Điều luật quy định Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng biện pháp đối chất khi có đủ 02 (hai) điều kiện:

Một là, lời khai giữa hai hay nhiều người có mâu thuẫn;

Hai là,  Cơ quan điều tra đã tiến hành hết các biện pháp điều tra nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quy định mới về trách nhiệm đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên là trước khi Điều tra viên tổ chức tiến hành việc đối chất thì bắt buộc Điều tra viên phải có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Viện kiểm sát phải cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc tiến hành đối chất của Điều tra viên; trách nhiệm của Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất.

Thứ hai, một số kỹ năng cơ bản Kiểm sát viên cần chú ý khi tiến hành kiểm sát việc “đối chất”:

Điểm đáng chú ý là sau khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản ghi lời khai người làm chứng, Kiểm sát viên cần nghiên cứu biên bản đối chất. Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ vụ án nào hoạt động đối chất cũng đều được tiến hành, mà căn cứ Điều 189 BLTTHS năm 2015 thì khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người như giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, mà Cơ quan điều tra đã tiến hành hết các biện pháp điều tra nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn, thì Điều tra viên tiến hành hoặc Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành đối chất; khi tiến hành đối chất phải được lập biên bản. Khi tiến hành kiểm sát việc đối chất, Kiểm sát viên phải thực hiện đầy đủ các nội dung theo đúng Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của VKSNDTC ban hành; cụ thể như sau:

- Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc đối chất hoặc nhận dạng, bảo đảm các hoạt động này được thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 189 BLTTHS nawm 2015. Kiểm sát viên có thể trực tiếp hoặc phối hợp cùng Điều tra viên tiến hành việc đối chất. Khi trực tiếp tiến hành đối chất, Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên biết.

- Sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã nhận hồ sơ vụ án, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng thì Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất để làm rõ mà không phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung. Nếu thấy cần phải nhận dạng thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành việc nhận dạng.

- Việc đối chất và lập biên bản đối chất do Kiểm sát viên tiến hành phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 189, 178 BLTTHS năm 2015. Biên bản đối chất phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao, lưu hồ sơ kiểm sát một bản.

Đặc biệt, khi nghiên cứu biên bản đối chất Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

- Kiểm tra tính hợp pháp của việc đối chất:

+ Kiểm sát viên phải kiểm tra những người được đối chất đó là ai (bị can, người bị hại, người làm chứng...), trước khi tiến hành đối chất Điều tra viên đã giải thích cho họ biết về trách nhiệm từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối chưa?

+ Kiểm sát viên phải kiểm tra Điều tra viên đã hỏi họ về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất với nhau chưa?

+ Kiểm sát viên phải kiểm tra xem Điều tra viên đã đọc lại biên bản đối chất cho những người có mặt nghe chưa?

+ Việc ký vào biên bản như thế nào, có ai sửa chữa, ghi thêm nội dung nào vào biên bản không?

- Về nội dung tính có căn cứ của biên bản đối chất:

+ Kiểm sát viên cần kiểm tra các câu hỏi và trả lời của biên bản đối chất xem nội dung đã giải quyết các mâu thuẫn chưa?

+ Những người tham gia đối chất đã trả lời về những tình tiết cần làm sáng tỏ như thế nào, họ đã trình bày và giải thích về những mâu thuẫn giữa lời khai của họ với lời khai của những người khác, giữa lời khai hiện nay và trước đây như thế nào?

+ Qua trả lời của những người tham gia đối chất thì đã giải quyết được mâu thuẫn chưa, nội dung nào chưa được giải quyết?

+ Những nội dung nào đã được giải quyết hoặc chưa được giải quyết, Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ để tiến hành các hoạt động tiếp theo vào bản nghiên cứu của mình để giải quyết tiếp.../.

 

Bảo Châu

Tác giả bài viết: VH (theo Kiểm sát online)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Hộp thư điện tử
thư viện pháp luật
Phần mềm quản lý án hình sự
Tạp chí kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
Quản lý án dân sự
Đại học kiểm sát
Truyền hình kiểm sát
VKS Quảng Nam
báo bảo vệ pháp luật

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 5097

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138266

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9228314

Bình yên trên vùng đất mới