18:50 ICT Thứ sáu, 22/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Làm gì để tránh thiếu sót, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng bản Cáo trạng

Chủ nhật - 25/09/2016 10:05
(Kiemsat.vn) - Thẩm quyền truy tố bằng bản Cáo trạng là một đặc quyền của Viện kiểm sát được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc truy tố phải đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật, chính xác, khách quan. Vì vậy, bản Cáo trạng phải được lập đúng mẫu hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cáo trạng là một văn bản tố tụng hình sự duy nhất chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền ban hành để làm căn cứ cho Tòa án đưa ra xét xử đối với tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, qua theo dõi, kiểm tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương thấy còn nhiều bản Cáo trạng chưa đạt yêu cầu cả về hình thức và nội dung, đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu kết quả nghiên cứu về một số thiếu sót trong việc xây dựng các bản Cáo trạng và một số giải pháp để khắc phục mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đã đúc kết nhằm rút kinh nghiệm chung, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng bản Cáo trạng, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp.

Một số thiếu sót, hạn chế khi xây dựng bản Cáo trạng:

Qua kiểm tra việc xây dựng bản Cáo trạng ở một số VKS cấp huyện trong tỉnh, VKSND tỉnh Hải Dương nhận thấy một số bản Cáo trạng vẫn còn có một số thiếu sót như: Không đúng bố cục theo mẫu Cáo trạng của Ngành, viện dẫn thiếu các quyết định tố tụng như khởi tố vụ án, bị can, tạm đình chỉ, phục hồi điều tra vụ án, bị can..., không khái quát được rõ nét hành vi phạm tội của bị can theo dấu hiệu đặc trưng của tội phạm mà nặng về mô tả; viết không rõ đặc điểm vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án; trách nhiệm dân sự; tiền án; tiền sự; cá biệt có một số Cáo trạng có sai sót trong việc áp dụng khoản và điều luật. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Cáo trạng không viện dẫn đầy đủ các quyết định tố tụng

Sai sót thường xảy ra đối với các vụ án Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, bị can, do bị can trốn và bị truy nã. Hoặc có vụ án, bị can tạm đình chỉ do được tách ra từ một vụ án có đông bị can. Sau đó Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can vì bắt được bị can. Khi xây dựng bản Cáo trạng, phần căn cứ pháp lý có VKS không ghi quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can, mà chỉ ghi quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can. Không ghi quyết định tách vụ án. Việc viện dẫn không đầy đủ các quyết định tố tụng như nêu trên dẫn đến việc không nắm bắt được vụ án, bị can được tách ra, được tạm đình chỉ từ thời gian nào.

Thứ hai, Cáo trạng lập không đúng mẫu quy định

Theo mẫu Cáo trạng, mục xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự viết sau phần mô tả diễn biến hành vi phạm tội, mục xử lý khác viết sau khi viện dẫn điều luật truy tố. Song có bản Cáo trạng không đúng trình tự trên.

Thứ ba, nội dung Cáo trạng không khái quát được hành vi phạm tội của bị can

Ví dụ như Cáo trạng số 34 ngày 22/4/2015 cua VKSND huyện K truy tố Trần Đức K về tội trộm cắp tài sản, Kiểm sát viên viết phần diễn biến hành vi phạm tội của bị can như sau: “Khoảng 12h ngày 03/02/2015 Trần Đức K gặp Đặng Văn T tại khu vực ngã tư thị trấn M - huyện Đ - tỉnh Q ( K và T có mối quan hệ quen biết nhau), K rủ T đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền ăn tiêu, T đồng ý (BL số 37, 43, 50, 58). Sau đó K điều khiển xe máy nhãn hiệu SuZuki, biển số 29H- 8865, là xe của K chở T đi qua địa bàn huyện K, tỉnh. H, đến thành phố H nhưng không thấy chiếc xe máy nào dựng sơ hở, nên K điều khiển xe máy quay về thị trấn M. Khoảng hơn 14h cùng ngày, khi đi qua cầu p, đến đoạn đường 388 thuộc địa phận...”.

Cáo trạng trên viết phần diễn biến hành vi phạm tội không cần thiết (thừa) so với phạm vi Viện kiểm sát quyết định truy tố vì K và T đi đến thành phố H, chưa thực hiện hành vi phạm tội, chưa gây ra hậu quả, chỉ đánh giá tính chất lỗi cố ý phạm tội của hai bị can. Có thể viết diễn biến hành vi phạm tội của các bị can trên như sau: “... Khoảng 12h ngày 03/02/2015 Trần Đức K từ nhà đi xe máy SuZuKi biển số 29H- 8865 đến ngã tư thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Q thì gặp và rủ Đặng Văn T đi lang thang nhiều nơi nếu có cơ hội sẽ trộm cắp xe máy bán lấy tiền chi tiêu, T đồng ý. Khoảng 14h cùng ngày cả hai đi đến đoạn đường 388 thuộc địa phận xã H, huyện K thì phát hiện thấy xe máy...”.

Thứ tư, phần kết luận của Cáo trạng chưa tổng hợp được ngắn gọn hành vi phạm tội của bị can, tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội

Ví dụ như Cáo trạng số 45 ngày 25/6/2015 của VKSND huyện G truy tố Bùi Quý T về tội mua bán trái phép chất ma túy. Phần kết luận viết như sau: “Hồi 10h40 ngày 31/3/2015 tại nhà ở của Bùi Quý T khu dân cư số 1, thị trấn G, huyện G, tỉnh H, T có hành vi bán trái phép 1 gói ma túy có thành phần Methamphetamine, có trọng lượng 0.179 gam cho Đào Văn H để lấy 500.000 đồng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 1 gói trọng lượng 0.179 gam ma túy có thành phần Methamphetamine; thu trong túi quần T đang mặc 05 gói ma túy có thành phần Methamphetamine, tổng trọng lượng 1,441 gam và 500.000 đồng.

Cách viết như trên không tổng hợp được việc T đã mua, tàng trữ tổng số ma túy mục đích để bán kiếm lời.

Thứ năm, bản Cáo trạng chưa đánh giá được vai trò của đồng phạm của các bị can

Ví dụ Cáo trạng số 23 ngày 31/3/2015 của VKSND huyện K truy tố Trần Văn T và Trương Ánh T về tội trộm cắp tài sản khi sắp xếp vai trò các bị can phân tích như sau: “Trong vụ án này, Trần Văn T là người gọi điện thoại bảo Trương Ánh T đến nhà T để đi trộm cắp chó, là người chuẩn bị công cụ phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội tích cực nên giữ vai trò chính, tiếp đến Trương Ánh T là đồng phạm tham gia với vai trò là người chuẩn bị phương tiện phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội tích cực”. Cách viết như trên lặp lại những nội dung đã nêu ở phần diễn biến hành vi phạm tội. Không chính xác về tên gọi đồng phạm vì theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm thì không có người đồng phạm vai trò chính.

Thứ sáu, viện dẫn bút lục chứng minh không theo đúng hướng dẫn của mẫu cáo trạng

Sai sót thường xảy ra là nêu đầy đủ tên người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khiến cho bản Cáo trạng thêm dài mà không giải quyết gì về nội dung truy tố trong khi mẫu Cáo trạng chỉ yêu cầu viện dẫn bút lục liên tiếp.

Ví dụ: Bản Cáo trạng số 32 ngày 27/5/2015 của VKSND huyện T truy tố Trần Văn D phạm tội trộm cắp tài sản, phần viện dẫn bút lục chứng minh Kiểm sát viên viết như sau: “Quá trình điều tra bị can Trần Văn D đã khai nhận hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt chiếc xe mô tô Hon đa Airblade biển kiểm soát 29E1- 104.30 trị giá 20.900.000 đồng của anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L biết được xe mô tô do D phạm tội mà có nhưng cùng D đem xe đị cầm cắm lấy tiền tiêu xài (BL 45 - 92), phù hợp với vật chứng đã được thu giữ (BL 176), phù hợp với lời khai của người bị hại anh Nguyễn Văn T (BL 93 - 115), lời khai người làm chứng anh Phạm Văn Q (BL 116 - 125), Phạm Văn D (BL 126 - 13) Vũ Văn s (LB 133 - 137), Phan Quang H (BL 138-148), bà Lại Thị V (BL 161-168), ông Hoàng Đức V (BL 149-152), ông Phạm Văn T (BL 153- 156), ông Nguyễn Văn C (BL 157- 160), bà Nguyễn Thị T (BL 169 - 170), anh Đặng Ngọc D (BL 168a), ông Hoàng Văn T (BL 168b), biên bản khám nghiệm hiện trường (BL 41 - 44) kết luận định giá tài sản (BL 173) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án”.

Phần này chỉ cần viết như sau: “Quá trình điều tra bị can Trần Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị can phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu trong hồ sơ vụ án có BL 41- 115; 116 - 173 .”

Ngoài những thiếu sót nêu trên, có một số thiếu sót khác đáng chú ý như: Cáo trạng không nêu rõ việc thu giữ, xử lý vật chứng và tài sản trong vụ án hình sự, hoặc không nêu số tài sản thu giữ là của ai? có chuyển đến Tòa án để phục vụ xét xử không? chuyển vật chứng trong phạm vi truy tố hay chuyển toàn bộ vật chứng đã thu giữ (vì cáo trạng không nêu quyết định chuyển vật chứng); truy tố sai tội danh, điều, khoản của Bộ luật Hình sự, ví dụ như cáo trạng đã truy tố các bị can về tội trộm cắp tài sản đến khi chuyển hồ sơ sang Tòa án để xét xử đã phải thay đổi quyết định truy tố các bị can về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội nhẹ hơn... hoặc Cáo trạng truy tố bị can và đồng phạm về tội đánh bạc theo điểm c khoản 2 Điều 248 BLHS do bị can phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, Tòa án đã xét xử bị can theo khoản 1 Điều 248 BLHS vì có 01 bản án đã được xóa án tích nên bị can chỉ bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm.

Nguyên nhân của những thiếu sót, tồn tại nêu trên, VKSND tỉnh Hải Dương xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu là do việc nghiên cứu, kiểm tra hồ sơ vụ án về quyết định tố tụng, chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như việc ghi chép, nắm vững hồ sơ vụ án có Kiểm sát viên chưa làm tốt; khi xây dựng bản Cáo trạng một số Kiểm sát viên chưa thực hiện nghiêm túc hướng dẫn tại mẫu số 107 ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/01/2008 của VKSNDTC và Điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; năng lực tổng hợp phân tích, kỹ năng viết ngắn gọn, súc tích, đầy đủ của một số Kiểm sát viên còn hạn chế; một số lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc kiểm tra, hướng dẫn, duyệt và ký Cáo trạng.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng bản cáo trạng

Đối với Kiểm sát viên:

Một là, giải pháp về nghiên cứu, kiểm tra nắm chắc hồ sơ vụ án

Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Kiểm sát viên phải làm ngay những nội dung sau:

- Kiểm tra các văn bản tổ tụng đã được ban hành đã đầy đủ và đúng chưa; việc chuyển giao các văn bản tổ tụng theo quy định; các điều kiện để áp dụng hoặc thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án về các chứng cứ buộc tội, các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết định tội, định khung, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Việc kiểm tra phải thực hiện đồng thời với việc ghi chép của Kiểm sát viên để kịp thời bổ sung hoàn thiện hồ sơ và một điều rất quan trọng là qua việc ghi chép giúp cho Kiểm sát viên nắm chắc hồ sơ vụ án. Một kinh nghiệm thực tiễn là chỉ có cán bộ, Kiểm sát viên nào thực hiện nghiêm túc việc nghiên cứu hồ sơ một cách khoa học và ghi chép đầy đủ thì mới nắm chắc được hồ sơ vụ án.

- Sau khi kiểm tra hồ sơ nếu xác định đầy đủ các căn cứ để truy tố bị can ra trước Tòa án, Kiểm sát viên báo cáo đề xuất việc truy tố với Lãnh đạo Viện và tiến hành lập Cáo trạng.

Hai là, giải pháp về thực hiện nghiêm túc hướng dẫn tại mẫu số 107 ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/1/2008 của VKSNDTC và Điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành)

- Bản cáo trạng phải bảo đảm cả hình thức và nội dung. Về hình thức phải tuân thủ nghiêm túc bố cục của mẫu 107. Về nội dung phải đảm bảo đúng quy định tại Điều 167 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành). Cụ thể: Kiểm sát viên phải nắm vững mẫu số 107 ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/01/2008 của VKSNDTC và Điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành). Khi viết cáo trạng dù dài hay ngắn, vụ án phức tạp hay không phức tạp, nhiều bị can hay ít bị can đều phải đảm bảo theo đúng bố cục của mẫu số 107 và Điều 167 BLTTHS năm 2003 (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành). Trong đó lưu ý:

+ Tại phần căn cứ mẫu 107 nêu rõ: Các quyết định có liên quan đến quá trình tố tụng thì phải ghi đầy đủ vào mục căn cứ. Thực hiện nghiêm hướng dẫn này bảo đảm cho người nghe, kiểm tra cáo trạng hình dung được toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Ví dụ hình dung được tại sao vụ án được khởi tố từ 5 năm trước nhưng đến nay mới truy tố (vì có quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi); hình dung được nơi này, cấp này khởi tố nhưng nơi khác, cấp khác truy tố (vì có quyết định chuyển vụ án); hoặc hình dung được vụ án có nhiều bị can nhưng trong đó đã có bị can được đình chỉ... Việc ghi các quyết định phải theo diễn biến thời gian.

+ Phần nội dung là phần trình bày hành vi phạm tội (hoặc các hành vi phạm tội của bị can (hoặc các bị can ), ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm, hành vi thủ đoạn phạm tội của bị can, động cơ mục đích phạm tội, hậu quả và những tình tiết khác. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Lưu ý khi viện dẫn chứng cứ (bút lục điều tra) nên ghi ở cuối cùng phần trình bày hành vi phạm tội của bị can. Ví dụ ghi: “Hành vi phạm tội của bị can (các bị can) được chứng minh bằng các chứng cứ từ bút lục A đến bút lục B; từ bút lục c đến bút lục d...” như hướng dẫn ở mục 2.2.6. Nêu như vậy sẽ không làm gián đoạn lời văn lúc viết cũng như lúc đọc bản cáo trạng, làm cho người nghe hiểu được dễ dàng hơn.

+ Phần kết luận: Mẫu số 107 đã hướng dẫn kỹ và rõ về phần này. Tuy nhiên, nhiều bản cáo trạng không đạt yêu cầu là do Kiểm sát viên chưa có kỹ năng tổng hợp, kỹ năng viết súc tích, ngắn gọn nhưng lại phải đủ ý. Mặt khác, việc đánh giá, sắp xếp vai trò của từng bị can cũng còn hạn chế.

+ Phần lý lịch bị can: Phần này Kiểm sát viên lưu ý và hiểu rõ như thế nào là tiền án, tiền sự. Những Quyết định, Bản án không còn là tiền án, tiền sự thì ghi vào mục nhân thân của bị can.

Ba là, giải pháp về rèn kỹ năng tổng hợp, phân tích, kỹ năng viết ngắn gọn, súc tích, đầy đủ

Kỹ năng này tùy thuộc vào khả năng, năng lực của mỗi Kiểm sát viên. Tuy nhiên, bản cáo trạng không đơn thuần chỉ là một bài văn, mà bài văn này (bản cáo trạng) phải tuân thủ theo những chuẩn mực nhất định đã được quy định trong luật (Điều 167 BLTTHS năm 2003 – Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành)) và đã được hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền là VKSNDTC (mẫu số 107 ban hành kèm theo QĐ số 07). Vì vậy, kỹ năng viết cáo trạng của Kiểm sát viên là hoàn toàn có thể rèn luyện được. VKSND tỉnh Hải Dương có nhiều biện pháp để rèn kỹ năng này cho Kiểm sát viên như tổ chức cuộc thi viết cáo trạng; thông báo rút kinh nghiệm hàng quý; Lãnh đạo, cán bộ quản lý hướng dẫn cho Kiểm sát viên khi duyệt cáo trạng... Tuy vậy kỹ năng này phần lớn vẫn phụ thuộc vào sự tự rèn luyện của mỗi Kiểm sát viên. Cụ thể:

- Trên cơ sở hồ sơ vụ án đã đầy đủ, đủ căn cứ để truy tố, Kiểm sát viên đã thực sự nắm vững hồ sơ vụ án, nắm vững bố cục, nội dung mẫu cáo trạng và quy định tại Điều 167 BLTTHS năm 2003 (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành), vấn đề khó nhất là viết phần nội dung và kết luận của bản cáo trạng. Vì vậy, trước khi viết những phần này Kiểm sát viên phải hình dung được những nội dung cần phải viết bằng cách vạch ra đề cương khung về các nội dung, trên cơ sở đề cương khung, Kiểm sát viên hình dung và vạch ra được nội dung chi tiết của từng vấn đề lớn. - Khi đã có đề cương chi tiết Kiểm sát viên cần sắp xếp lại nội dung nào viết trước, nội dung nào viết sau cho hợp lý và lôgic trước khi bắt tay vào viết chính thức.

- Sau khi dự thảo xong Kiểm sát viên cần kiểm tra lại để đảm bảo đã đúng bố cục và đầy đủ các nội dung theo quy định chưa. Nếu đã đúng và đầy đủ thì Kiểm sát viên tiến hành sửa câu, từ, lỗi chính tả, giọng văn bảo đảm ngắn gọn, súc tích dễ hiểu. Vì bản cáo trạng phải được công bố công khai tại phiên tòa, nên khi tiến hành sửa Kiểm sát viên nên đọc thành lời, đây là phương pháp rất tốt để phát hiện ra những lỗi chính tả, câu văn thừa, chưa rõ nghĩa, những đoạn văn chưa súc tích và cũng đồng thời rèn luyện kỹ năng đọc cho mình.

- Sau khi dự thảo cáo trạng đã hoàn chỉnh, Kiểm sát viên trình Lãnh đạo duyệt và tiếp tục sửa theo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Viện. Tuy nhiên, khi sửa xong Kiểm sát viên vẫn phải kiểm tra lại (đọc thành lời) để tiếp tục phát hiện sai sót về lỗi chính tả, câu từ chưa rõ nghĩa, đoạn văn chưa súc tích và báo cáo Lãnh đạo Viện cho ý kiến.

Đối với Lãnh đạo Viện:

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì Lãnh đạo Viện mới là người có thẩm quyền ký ban hành cáo trạng. Do vậy, Lãnh đạo Viện trước khi ký phát hành cáo trạng cần thực hiện tốt các nội dung sau:

- Duyệt cầ về hình thức và nội dung dự thảo cáo trạng do Kiểm sát viên trình để xác định: Dự thảo cáo trạng đã được xây dựng đúng mẫu 107 và quy định của Điều 167 BLTTHS năm 2003 (Điều 243 BLTTHS năm 2015 khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành) hay chưa? Việc truy tố bị can (các bị can) theo tội danh, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự đã đầy đủ căn cứ hay chưa? Có việc bỏ lọt tội và hành vi phạm tội, người phạm tội hoặc làm oan người vô tội hay không?.

- Kiểm tra hướng dẫn Kiểm sát viên về bố cục, nội dung bản cáo trạng: Quá trình duyệt bản cáo trạng Lãnh đạo Viện nâng cao trách nhiệm trong việc kiểm tra, hướng dẫn đối với Kiểm sát viên. Khi phát hiện lỗi chính tả, câu văn thừa, đoạn văn chưa súc tích, cách viết chưa ngắn gọn, lôgic..., Lãnh đạo Viện phải trực tiếp sửa cho Kiểm sát viên, không nêu đại ý chung chung rồi yêu cầu Kiểm sát viên sửa. Trước khi ký để ban hành cáo trạng, Lãnh đạo Viện cũng phải kiểm tra kỹ một lần nữa, nếu đã đảm bảo mới ký ban hành./.

Minh Anh

Nguồn tài liệu: Từ Chuyên đề của VKSND tỉnh Hải Dương

Tác giả bài viết: VH (theo Kiểm sát online)

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

thư viện pháp luật
Quản lý án dân sự
Tạp chí kiểm sát
Truyền hình kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự
Đại học kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
VKS Quảng Nam
báo bảo vệ pháp luật
Hộp thư điện tử

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 50

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 48


Hôm nayHôm nay : 5055

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138224

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9228272

Bình yên trên vùng đất mới