18:03 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Rút kinh nghiệm các vụ án hình sự bị cấp phúc thẩm xét xử sửa án

Chủ nhật - 18/09/2016 12:21
(Kiemsat.vn) – Xác định tội danh không phù hợp với tính, chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra sẽ dẫn tới việc áp dụng các điều khoản của BLHS cũng như hình phạt không được thỏa đáng gây bất lợi cho các bị cáo.

Thông qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự, VKSND tỉnh Q B nhận thấy một số vụ án hình sự sơ thẩm có sai sót trong việc xác định tội danh và định khung hình phạt đối với các bị cáo cần nêu lênđể các đơn vị nghiên cứu rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự cấp sơ thẩm.

Vụ án thứ nhất: Khoảng 19 giờ, ngày 13/6/2015 anh Lê Xuân H ở quận H B, thành phố H N vào công tác ở Q B để túi xách ở bãi biển Đá Nhảy không có ai trông giữ rồi xuống tắm biển, trong túi xách có 01 đồng hồ đeo tay trị giá 138.000.000đ; 01 ĐTDĐ Iphone 6 plus 18.150.000d; 01 ĐTDĐ Nokia 800.000; 36.000.000đ tiền mặt; 02 đôi dép 30.000đ. Tổng trị giá tài sản: 192.980.000đ. Lúc này Phan Thanh S và Hoàng Q đi dọc bờ biển (bắt coòng) thì phát hiện và chiếm giữ túi xách nói trên. Khi anh H gọi vào số ĐT của mình S nghe máy và nói “Chìa khoá vứt ở cổng khách sạn” rồi tắt máy. 

Quá trình tố tụng:

Cáo trạng số 66/THQCT-KSĐT ngày 02/10/2015 của VKSND huyện B Tr truy tố bị cáo Phan Thanh S, Hoàng Q về tội “Trộm cắp tài sải theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS.

Bản án sơ thẩm số 76/2015/HSST ngày 30/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện B Tr đã xét xử bị cáo Phan Thanh S, Hoàng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS. Không nhất trí về tội danh và hình phạt, các bị cáo S và Q đã kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xét xử các bị cáo về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác” quy định tại Điều 141 BLHS.

Bản án HSPT số 09/HSPT/2016 ngày 21/01/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Q B xét xử phúc thẩm đã tuyên: Áp dụng khoản 2 điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án theo hướng áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn và tuyên phạt bị cáo Phan Thanh S và Hoàng Q về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác” theo khoản 1 điều 141 BLHS.

Vụ án thứ hai: Khoảng 13h ngày 07/10/2015 Hồ Quang Th đi xe máy từ Hải Trạch lên chợ Hoàn Lão mua 01 con dao cán gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 83cm rồi đến quán Vương Quốc Quán ở TK3 -TT Hoàn Lão. Tại đây Th gọi điện cho Dương Đình T dặn T rủ thêm vài người bạn nữa để tìm Dương Minh Th đòi nợ và đánh dằn mặt. T đồng ý và gọi điện cho Hồ Việt H cùng đi, trên đường đi H hỏi T đi đâu thi mới biết là đi đòi nợ. 

Khi T và H đến Vương Quốc Quán ngồi nhậu với Th được một lúc thì Th hỏi T: “Bây cầm hàng đó không?” (hàng có nghĩa là dao, kiếm). T nói: “Có mô mà cầm”. Th nói: “Anh cầm một con nơi nờ”. Th, T và H đi bằng 02 xe máy đến quán bi da ROYAL. Tại đây, Th cầm dao đi vào quán đến chỗ Dương Minh Th ngồi, T đi theo sau, còn H đứng ở cổng ra vào quán. Th cầm dao giơ lên trước mặt Dương Minh Th và nói: “Đ.mạ, tau chém chết mẹ mi bây giờ, chừ mi có trả tiền không?”. Dương Minh Th liền lấy điện thoại OPPO của mình (trị giá 7.977.000đ) trong túi ra để trên bàn rồi đi thụt lùi lại phía sau. Th lấy điện thoại cất vào túi, còn T dùng tay kẹp cổ anh Dương Minh Th kéo ra trước quán, rồi cả Th, T và H dùng tay chân đấm đá anh Dương Minh Th gây chảy máu miệng và sưng phù vùng chẩm.

Khi về đến nhà, Th cho T 500.000đ, T dùng 50.000đ đổ xăng xe cho Hồ Việt H và đưa cho H 100.000đ tiền mặt, còn 350.000đ T giữ.

Quá trình tố tụng:

Cáo trạng số 81/THQCT-KSĐT-KT ngày 13/11/2015 của VKSND huyện B Tr truy tố các bị cáo Hồ Quang Th, Dương Đình T và Hồ Việt H về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS.

Bản án sơ thẩm số 87/2015/HSST ngày 30/11/2015 của Toà án nhân dân huyện B Tr, áp dụng xét xử các bị cáo HồQuang Th, Dương Đình T và Hồ Việt H về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS. Ngày 10/12/2015,các bị cáo Hồ Quang Th, Dương Đình T và Hồ Việt H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 Bản án HSPT số 21/HSPT/2016 ngày 26/02/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Q B xét xử phúc thẩm đã tuyên:

Y án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo Hồ Quang Th và Dương Đình T. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248, khoản Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án theo hướng áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn và tuyên phạt Hồ Việt H theo khoản 1 Điều 133 BLHS.

 

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Vụ thứ nhất: Án sơ thẩm đã xác định hai bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 điều 138 BLHS là không phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, bất lợi cho bị cáo. Vì bị cáo S và bị cáo Q lấy tài sản của anh Lê Xuân H không có sự lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của anh H. Anh H cũng đã có đơn trình bày với nội dung như trên và yêu cầu xử các bị cáo về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác”.

Bởi lẽ, tài sản của anh H để trên bãi biển không có ai trông giữ trong khi bãi biển vắng người thời gian là lúc 19 giờ, không gian trời tối. Cả hai bị cáo không nhìn thấy ai kể cả bị hại và anh H cũng không nhìn thấy hai bị cáo. Bị cáo S và bị cáo Q sau khi nhặt được túi xách của anh H đáng lẽ các bị cáo phải tìm chủ sở hữu để trả lại tài sản hoặc đem nộp cho chính quyền địa phương để xử lý theo thủ tục mà pháp luật quy định nhưng các bị cáo đã nảy sinh ý định mang tài sản về để sử dụng cá nhân mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Sau đó, anh H đã có yêu cầu trả lại nhưng hai bị cáo không trả. Như vậy, các bị cáo đã có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác. Cụ thể là quyền sở hữu đối với tài sản của anh H. Vì vậy, hành vi của bị cáo Phan Thanh S, Hoàng Q đã cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác” quy định tại khoản 1 điều 141 BLHS.

Vụ thứ hai: Án sơ thẩm đã xét xử, xem xét hành vi, tính chất mức độ phạm tội, xác định đúng tội danh, áp dụng chính xác các điều khoản của BLHS để tuyên mức hình phạt thỏa đáng đối với hai bị cáo Hồ Quang Th và Dương Đình T.

Đối với bị cáo Hồ Việt H, thấy rằng: Hành vi của H chỉ là đồng phạm trong tội “Cướp tài sản” với vai trò giúp sức theo khoản 1 Điều 133 BLHS. Việc cấp sơ thẩm truy tố, xét xử H theo khoản 2 Điều 133 BLHS với tình tiết “sử dụng vũ khí” là chưa thỏa đáng. Bởi vì, khi được T rủ đi, H đồng ý đi theo mà không biết được là đi đâu. Chỉ khi gần đến nơi, H mới nghe T nói là đi đòi nợ. Việc Th hỏi T và H có cầm theo hàng không và Th nói Th có cầm theo 01 con, không có nghĩa là buộc H phải chịu trách nhiệm về điều này. Vì giữa Th và H không có sự bàn bạc, quen biết từ trước; H chỉ đi theo T. Mặt khác, chỉ Th và T là người vào trong và Th là người trực tiếp thực hiện hành vi dùng hung khí để đe dọa anh Dương Minh Th với sự giúp sức của T. Còn H đứng ngoài đợi, không vào trong tham gia. Như vậy, trong trường hợp này Th và T phải chịu trách nhiệm chung về hành vi “sử dụng vũ khí”, còn H chỉ chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm về hành vi cướp tài sản theo khoản 1 Điều 133 BLHS là phù hợp và chính xác./. 

 

Nguyễn Long (tổng hợp)

Tác giả bài viết: VH (theo Kiểm sát online)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Hộp thư điện tử
Quản lý án dân sự
Phần mềm quản lý án hình sự
thư viện pháp luật
Truyền hình kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
VKS Quảng Nam
Tạp chí kiểm sát
báo bảo vệ pháp luật
Đại học kiểm sát

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 41

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 40


Hôm nayHôm nay : 4472

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 161129

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9679800

Bình yên trên vùng đất mới