18:55 ICT Thứ sáu, 22/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Thời hiệu khởi kiện áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật dân sự năm 2015

Thứ sáu - 24/02/2017 10:03
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) có một số quy định về thời hiệu khởi kiện khác với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 và của Bộ luật dân sự năm 2005.

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể này mất quyền khởi kiện.

          Trước BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện được hiểu như một thời hạn mà các bên tranh chấp có quyền nộp đơn khởi kiện vụ án ra tòa, do đó khi hết thời hiệu khởi kiện thì tòa án không thụ lý để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Nếu vụ án đó đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Quyết định này không đảm bảo quyền khởi kiện của các bên tranh chấp, do đó BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã bỏ điều kiện về thời hiệu khởi kiện để thụ lý vụ án, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về hậu quả pháp lý và cách giải quyết.

          Theo pháp luật các nước trên thế giới thì quy định về thời hạn khởi kiện chỉ là căn cứ để tòa án xem xét khi các bên tranh chấp có viện dẫn để áp dụng quy định này do đó tòa án vẫn thụ lý giải quyết tranh chấp và có 03 khả năng xảy ra: Ban hành Bản án giải quyết tranh chấp theo pháp luật; Quyết định Công nhận thỏa thuận của các đương sự nếu các bên có thỏa thuận; Quyết định Đình chỉ giải quyết hoặc miễn thự c hiện nghĩa vụ nếu một trong các bên có viện dẫn quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án áp dụng để giải quyết tranh chấp.

          Để bắt nhịp theo xu thế chung của thế giới, BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện (khoản 4 Điều 150 BLDS 2015). Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụng về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng của một hay các bên, yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng trừ trường hợp việc từ chối đó để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ khác.

         BLTTDS 2015 đã sửa đổi bổ sung theo hướng dẫn chiếu tới các qui định tương ứng của Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện ở một số điều luật cụ thể như: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp của mình pháp bị xâm phạm (Điều 429); Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích của mình hợp pháp bị xâm phạm (Điều 588) (BLDS 2005 qui định thời hiệu khởi kiện cho hai loại tranh chấp trên là 02 năm); Thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với yêu cầu chia di sản là 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản (Khoản 1, Điều 623); Thời hiệu đối với yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm (Khoản 2, Điều 623); Thời hiệu đối với yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (Khoản 3, Điều 623); Thời hiệu đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự đó (Điều 671). 

         Bên cạnh những điều luật cụ thể quy định về thời hiệu khởi kiện, Bộ luật dân sự 2015 quy định về những trường hợp không áp dụng thời hiệu tại Điều 155: “Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai; Trường hợp khác do luật quy định.”

         Như vậy, điểm mới trong quy định về thời hiệu khởi kiện của BLTTDS 2015 chính là nguyên tắc: Tòa án chỉ áp dụng các qui định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.Điểm mới trong quy định về áp dụng thời hiệu khởi kiện như nêu trên đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có thể quên hoặc không biết đến thời hiệu khởi kiện theo quy định.

        Để thực hiện tốt công tác kiểm sát giải quyết vụ việc tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động, các cán bộ, Kiểm sát viên cần lưu ý khi áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện nêu trên.

Tác giả bài viết: Trương Thị Thùy Dương – VKSND Hải Châu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: bộ luật, dân sự

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Truyền hình kiểm sát
thư viện pháp luật
Phần mềm quản lý án hình sự
VKS Quảng Nam
Hộp thư điện tử
Đại học kiểm sát
Quản lý án dân sự
Tạp chí kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
báo bảo vệ pháp luật

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 36

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 5085

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138254

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9228302

Bình yên trên vùng đất mới