18:02 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Trao đổi một số cơ sở lý luận về công tác xây dựng sáng kiến

Thứ bảy - 29/10/2016 09:08
Nâng cao chất lượng công tác xây dựng sáng kiến luôn gắn liền với chất lượng, hiệu quả công tác của các cơ quan, đơn vị, là một trong những căn cứ để đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, và người lao động, và là một trong những tiêu chí xét thi đua, khen thưởng.Trong thời gian qua, công tác xây dựng sáng kiến của VKSND thành phố đã góp phần nâng cao hiệu quả các khâu công tác nói chung và công tác thi đua khen thưởng nói riêng, đóng góp quan trọng vào thành tích chung của VKSND thành phố. Tuy nhiên, công tác xây dựng sáng kiến vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần phải được nghiên cứu sâu sắc và có giải pháp khắc phục kịp thời. Do đó, việc nâng cao nhận thức về công tác xây dựng sáng kiến sẽ góp phần đưa công tác xây dựng sáng kiến của Viện kiểm sát hai cấp ngày càng đi vào thực chất.

 1. Khái niệm sáng kiến, đối tượng được công nhận sáng kiến

 1.1. Khái niệm về sáng kiến

Điều 3, Điều lệ Sáng kiến ban hành kèm theo Nghị định 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ đã nêu khái niệm về sáng kiến:

1. Sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (gọi chung là giải pháp), được cơ sở công nhận nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới trong phạm vi cơ sở đó;

b) Đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở đó và có khả năng mang lại lợi ích thiết thực;

c) Không thuộc đối tượng bị loại trừ quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Các đối tượng sau đây không được công nhận là sáng kiến:

a) Giải pháp mà việc công bố, áp dụng giải pháp trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội;

b) Giải pháp là đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật tính đến thời điểm xét công nhận sáng kiến.

1.2. Đối tượng được công nhận là sáng kiến: Điều 3, Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN,ngày 01/8/2013 của Bộ Khoa học Công nghệ về hướng dẫn thi hành một số điều của Điều lệ Sáng kiến quy định:  Đối tượng được công nhận là sáng kiến gồm giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 3 của Điều lệ Sáng kiến. Giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật được hiểu như sau: 

1. Giải pháp kỹ thuật là cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ (một vấn đề) xác định, bao gồm:

a) Sản phẩm, dưới các dạng: vật thể, chất, vật liệu sinh học...;

b) Quy trình (ví dụ: quy trìnhứng dụng công nghệthông tin; quy trình kiểm tra, xử lý...).

2. Giải pháp quản lý là cách thức tổ chức, điều hành công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, trong đó có:

a) Phương pháp tổ chức công việc (ví dụ: bố trí nhân lực);

b) Phương pháp điều hành, kiểm tra, giám sát công việc.

3. Giải pháp tác nghiệp bao gồm các phương pháp thực hiện các thao tác kỹ thuật, nghiệp vụ trong công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, trong đó có:

a) Phương pháp thực hiện các thủ tục hành chính (ví dụ: tiếp nhận, xử lý hồ sơ, đơn thư, tài liệu);

b) Phương pháp thẩm định, giám định, tư vấn, đánh giá;

c) Phương pháp tuyên truyền, đào tạo, giảng dạy, huấn luyện;

d) Phương pháp huấn luyện động vật; …

4. Giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là phương pháp, cách thức hoặc biện pháp áp dụng một giải pháp kỹ thuật đã biết vào thực tiễn.

2. Tính mới và khả năng mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến

Một giải pháp phải đáp ứng được hai yêu cầu: tính mới và khả năng mang lại lợi ích thiết thực cho cơ quan, đơn vị như: tăng năng suất lao động, chất lượng công tác mới được công nhận là sáng kiến. Điều 4, Điều lệ Sáng kiến quy định về  tính mới và khả năng mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến:

Thứ nhất,Một giải pháp được coi là có tính mới trong phạm vi một cơ sở nếu tính đến trước ngày nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến, hoặc ngày bắt đầu áp dụng thử hoặc áp dụng lần đầu (tính theo ngày nào sớm hơn), trong phạm vi cơ sở đó, giải pháp đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiến nộp trước;

b) Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được;

c) Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến;

d) Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện.

Thứ hai,Một giải pháp được coi là có khả năng mang lại lợi ích thiết thực nếu việc áp dụng giải pháp đó có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị (ví dụ nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm...), hoặc lợi ích xã hội (ví dụ:nâng cao điều kiện an toàn lao động, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người).

3. Thủ tục yêu cầu, xét, công nhận sáng kiến

3.1.Đơn yêu cầu công nhận sáng kiến:

Theo Điều 5, Điều lệ Sáng kiến, tác giả sáng kiến có thể  làm đơn yêu cầu công nhận sáng kiến tại các cơ sở thẩm quyền sau đây:

a) Tại cơ sở là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến;

b) Tại cơ sở được tác giả sáng kiến chuyển giao sáng kiến theo thỏa thuận giữa hai bên, với điều kiện chủ đầu tư tạo ra sáng kiến từ chối công nhận sáng kiến và không có thỏa thuận khác với tác giả sáng kiến;

c) Tại cơ sở được tác giả sáng kiến chuyển giao sáng kiến theo thỏa thuận giữa hai bên, trong trường hợp tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.

Đối với giải pháp đã được áp dụng, thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu công nhận sáng kiến là 01 năm kể từ ngày sáng kiến được đưa vào áp dụng lần đầu.

3.2. Trình tự tiếp nhận, xem xét đơn yêu cầu công nhận sáng kiến

Cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến theo quy định có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét đơn yêu cầu công nhận sáng kiến, hỗ trợ tác giả sáng kiến hoàn thiện đơn và có trách nhiệm xét công nhận sáng kiến theo quy định. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận sáng kiến, cơ sở có trách nhiệm xem xét đơn theo quy định và thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Thông báo cho tác giả sáng kiến về thiếu sót của đơn và ấn định thời hạn 01 tháng để tác giả sửa chữa bổ sung, gửi lại;

b) Thông báo cho tác giả sáng kiến về việc chấp nhận đơn, ghi nhận các thông tin liên quan của đơn và lưu giữ hồ sơ đơn phù hợp với quy định;

c) Thông báo cho tác giả rõ lý do nếu từ chối chấp nhận đơn.

3.3.Xét, công nhận sáng kiến

Việc xét công nhận sáng kiến được thực hiện trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấp nhận đơn yêu cầu công nhận sáng kiến theo quy  định hoặc từ ngày hoàn thành việc áp dụng lần đầu, nếu sáng kiến được áp dụng lần đầu sau khi đơn được chấp nhận. Cơ sở xét công nhận sáng kiến đánh giá đối tượng nêu trong đơn theo quy định và thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Công nhận sáng kiến và cấp Giấy chứng nhận sáng kiến cho tác giả sáng kiến, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Từ chối công nhận sáng kiến trong trường hợp đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng các điều kiện quy định và thông báo bằng văn bản cho tác giả sáng kiến, trong đó nêu rõ lý do từ chối.

Việc xét công nhận sáng kiến do người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến quyết định. Trường hợp sáng kiến được tạo ra do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật, nếu người đứng đầu cơ sở công nhận sáng kiến chính là tác giả sáng kiến thì việc công nhận sáng kiến phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý theo quy định sau đây:

a) Trường hợp cơ sở xét công nhận sáng kiến là cơ quan, tổ chức của Nhà nước, việc công nhận sáng kiến phải được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ sở đó chấp thuận;

b) Trường hợp cơ sở xét công nhận sáng kiến không phải là cơ quan, tổ chức của Nhà nước, việc công nhận sáng kiến phải được Sở Khoa học và Công nghệ tại địa phương nơi cơ sở đó đóng trụ sở hoặc cơ quan, tổ chức nhà nước trực tiếp thực hiện việc đầu tư tạo ra sáng kiến chấp thuận.

4. Hội đồng Sáng kiến, nghĩa vụ của tác giả sáng kiến

4.1. Hội đồng Sáng kiến

Theo khoản1, Điều 8 Điều lệ Sáng kiến quy định:  Người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến có thể thành lập Hội đồng Sáng kiến để đánh giá giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến làm căn cứ quyết định việc công nhận sáng kiến.

Trường hợp sáng kiến được tạo ra do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật và người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến chính là tác giả sáng kiến thì sáng kiến đó phải được đánh giá thông qua Hội đồng Sáng kiến.

 Hội đồng Sáng kiến bao gồm những người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực có liên quan đến nội dung sáng kiến, đại diện của tổ chức Công đoàn nơi tác giả là Công đoàn viên và các thành phần khác theo quyết định của người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến.

Hội đồng Sáng kiến có nhiệm vụ tổ chức đánh giá một cách khách quan, trung thực giải pháp được yêu cầu công nhận sáng kiến theo các điều kiện quy định tại Điều lệ Sáng kiến và lập báo cáo đánh giá, trong đó phản ánh đầy đủ ý kiến của các thành viên, kết quả biểu quyết của Hội đồng.

4.2. Nghĩa vụ của tác giả sáng kiến

Tác giả sáng kiến có các nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp đầy đủ các thông tin về sáng kiến đến mức có thể áp dụng được cho cơ sở công nhận sáng kiến;

b) Tham gia triển khai áp dụng sáng kiến lần đầu;

c) Giữ bí mật thông tin về sáng kiến theo thỏa thuận với chủ đầu tư tạo ra sáng kiến và theo quy định của pháp luật;

d) Trả thù lao cho những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu theo quy định.

5. Vị trí, vai trò của sáng kiến trong công tác thi đua khen thưởng; công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.

5.1. Sáng kiến trong công tác thi đua khen thưởng

 Luật thi đua khen thưởng ngày 26/11/2003, được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào các năm 2005 và 2013 đã quy định các danh hiệu “ Chiến sỹ thi đua” và khen thưởng phải căn cứ vào hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của sáng kiến được công nhận. Ngay từ năm 2003, Luật Thi đua khen thưởng năm 2003 đã quy định sáng kiến là một trong haitiêu chí bắt buộc để xét công nhận danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” và là một trong những tiêu chí để Nhà nước tặng các danh hiệu thi đua khen thưởng cấp Ngành, và Nhà nước như: Chiến sỹ thi đua toàn quốc, Huân chương Lao động….

  -Về Chiến sỹ thi đua cơ sở:Điều 23, Luật Thi đua khen thưởng năm 2003 vàKhoản 4, Điều 13, Quy chế thi đua, khen thưởng trong ngành Kiểm sát nhân dân, ban hành kèm theo quyết định số 307/QĐ- VKSTCngày 03/7/2008 của VKSND tối cao qui định tiêu chuẩn “Chiến sĩ thi đua cơ sở” phải đạt các tiêu chuẩn sau:

a/ Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến”.

b/ Có sáng kiến, cải tiến phương pháp làm việc hoặc áp dụng công nghệ mới để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.”

- Về Huân chương lao động:Khoản 1, Điều 43,và khoản 1, Điều 44Luật thi đua khen thưởng năm 2003 quy địnhtặng thưởng thường xuyên:

“1. “Huân chương Lao động” hạng Nhì để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn sau:

a) Đã được tặng “Huân chương Lao động” hạng Ba, sau đó có hai lần được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương hoặc một lần được tặng “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”;

b) Có phát minh, sáng chế, công trình khoa học hoặc tác phẩm xuất sắc cấp Bộ, Ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương;

c) Lập được thành tích xuất sắc đột xuất hoặc có quá trình cống hiến lâu dài trong các cơ quan, tổ chức, đoàn thể.”

 Và “1. “Huân chương Lao động” hạng Ba để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn sau:

a) Có 7 năm liên tục đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở” và có hai lần được tặng Bằng khen cấp Bộ, Ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương hoặc một lần được tặng “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”;

b) Có công trình khoa học, nghệ thuật hoặc có sáng kiến, giải pháp hữu ích được Hội đồng khoa học cấp Bộ đánh giá xuất sắc, được ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả cao, thiết thực;

c) Lập được thành tích xuất sắc đột xuất hoặc có quá trình cống hiến lâu dài trong các cơ quan, tổ chức, đoàn thể.”

Theo quy định trên, để được tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba theo tiêu chuẩn thường xuyên, cá nhân phải có ít nhất 07 sáng kiến cấp cơ sở liên tục; huân chương Lao động hạng Nhì, cá nhân phải có 16 sáng kiến cấp cơ sở liên tục được cấp có thẩm quyền công nhận.

 Khoản 2, Điều 23, Luật Thi đua khen thưởng năm 2013 đã làm rõ, quy định cụ thể về các mức độ sáng kiến để áp dụng xét phong, tặng danh hiệu  “ Chiến sỹ thi đua”các cấp và các hình thức khen thưởng khác. Ví dụ: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ phải có 05 sáng kiến; Huân chương Lao động hạng Ba phải có sáng kiến được Hội đồng Khoa học cấp Bộ, cấp tỉnh đánh giá xuất sắc, được ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả cao…

5.2. Sáng kiến trong đánh giá cán bộ, công chức, viên chức

 Theo Nghị định số 56/NĐ-CP, ngày 09/5/2015 của Chính phủ về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức, và Quy chế đánh giá, phân loại công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân(Ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-VKSTC-V15 ngày 22/12/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao), tiêu chí có sáng kiến được công nhận là một trong những tiêu chí đánh giá, phân loại mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với công chức, viên chức và người lao động hàng năm.  Điểm i, khoản 1, Điều 14  Quy chế trên quy định đối với công chức:“i,Có ít nhất 01 công trình khoa học, đề án, đề tài hoặc sáng kiến, giải pháp được áp dụng có hiệu quả trong công tác của đơn vị được cấp có thẩm quyền công nhận”.

Tóm lại, sáng kiến là một tiêu chí không thể thiếu đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; là một trong những tiêu chuẩn để xét đề nghị công nhận các thành tích thi đua, khen thưởng từ cấp cơ sở đến Trung ương. Thực hiện Chỉ thị số 34- CT/TW, ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”,Chỉ thị số 08/CT-VKSTC, ngày 16/10/2014 của VKSND tối cao về việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Kiểm sát nhân dân, không thể tách rời công tác xây dựng sáng kiến trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Tác giả bài viết: Văn Hưng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Quản lý án dân sự
VKS Quảng Nam
Hộp thư điện tử
báo bảo vệ pháp luật
Truyền hình kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự
Viện kiểm sát tối cao
thư viện pháp luật
Tạp chí kiểm sát
Đại học kiểm sát

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 36

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 4457

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 161114

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9679785

Bình yên trên vùng đất mới