03:43 ICT Thứ bảy, 24/08/2019
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Trao đổi nghiệp vụ

Vai trò của VKSND thành phố Đà Nẵng trong công tác hòa giải, đối thoại trong BLTTDS và Luật TTHC

Thứ sáu - 19/07/2019 22:25
Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động hòa giải của Tòa án theo quy định tại Chương XIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) thông qua việc kiểm sát các quyết định công sự thỏa thuận của các đương sự do Tòa án gửi và thông qua việc nghiên cứu hồ sơ các vụ, việc VKS tham gia phiên tòa, phiên họp. Nhìn chung, đối với những vụ, việc VKS tham gia phiên tòa, phiên họp và thực hiện việc kiểm sát hồ sơ thì thấy hoạt động hòa giải do TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng tiến hành đều thực hiện đúng các quy định về thông báo phiên hòa giải, thành phần tham gia, trình tự, việc lập biên bản theo quy định BLTTDS.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 209 BLTTDS thì thành phần tham gia hòa giải không có đại diện VKS nên Kiểm sát viên không kiểm sát trực tiếp hoạt động hòa giải tại phiên họp hòa giải mà chỉ kiểm sát hoạt động hòa giải này thông qua hồ sơ Tòa án chuyển cho Viện kiểm sát đối với những vụ, việc mà VKS tham gia phiên tòa, phiên họp. Việc kiểm sát được thực hiện thông qua biên bản hòa giải (chỉ những biên bản hòa giải không thành), cụ thể:

Kiểm sát viên kiểm sát nội dung biên bản hòa giải xem có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 211 BLTTDS hay không; biên bản có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của thư ký Toà án ghi biên bản và của thẩm phán chủ trì phiên hòa giải...

Kiểm sát phạm vi hòa giải: khoản 1 Điều 205 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”. Do vậy, khi kiểm sát, KSV kiểm sát xem Tòa án đã thực hiện việc hòa giải đúng phạm vi hòa giải hay chưa, cụ thể là Tòa án phải hòa giải hầu hết những tranh chấp được quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS nhưng lại không được hòa giải đối với những yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước; những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Kiểm sát thành phần tham gia hòa giải có đầy đủ theo khoản 1 Điều 209 BLTTDS hay không; có đương sự vắng mặt thì ý kiến của họ như thế nào…

Kiểm sát trình tự hòa giải xem thẩm phán có thực hiện đúng thủ tục quy định tại khoản 4 Điều 210 BLTTDS hay không.

Về nguyên tắc, tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, đây là thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 246 BLTTDS, tại phiên tòa nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định công nhận sự thỏa thuận này – KSV tham gia phiên tòa kiểm sát việc quyết định công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa này của HĐXX, kiểm sát xem các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay chưa, việc thỏa thuận này có tự nguyện không, có vi phạm điều cấm của pháp luật hay trái đạo đức xã hội hay không? Trường hợp các đương sự chỉ thỏa thuận được một phần vụ án thì kiểm sát xem Tòa án có ghi nhận sự thỏa thuận này trong bản án hay không…

Kiểm sát hồ sơ đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính do đối thoại thành: Luật TTHC không quy định Viện kiểm sát phải tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoạicũng như chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đối với các vụ án hành chính đã có quyết định công nhận đối thoại thành hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án do đối thoại thành.Do đó, KSV chỉ kiểm sát  kết quả đối thoại khi nhận được hồ sơ vụ án (sau khi đối thoại không thành) hoặc chỉ nhận được quyết định công nhận kết quả đối thoại thành hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính do người khởi kiện rút đơn khởi kiện (không có hồ sơ đối thoại kèm theo để đánh giá quyết định đó có đúng pháp luật thay không? Có thuộc trường hợp không tiến hành đối thoại được hay việc đối thoại có bảo đảm nguyên tắc quy định tại Điều 134 không?)

 Đối với việc kiểm sát những quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, quyết định đối thoại thành và quyết định đình chỉ giải quyết: đây là những trường hợp Tòa án hòa giải, đối thoại thành hoặc đương sự tự nguyện rút đơn nên Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, quyết định đối thoại thành và quyết định đình chỉ, VKS chỉ kiểm sát thông qua quyết định do TA gửi.

Đối với việc kiểm sát hồ sơ sơ thẩm: đây là những vụ án Tòa án tiến hành hòa giải, đối thoại không thành, đưa ra xét xử và chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tham gia phiên tòa theo quy định, lúc này KSV kiểm sát hoạt động hòa giải của Tòa án thông qua các biên bản hòa giải có trong hồ sơ vụ án và những vụ án VKS kiểm sát hồ sơ nhưng không tham gia phiên tòa do trước khi mở phiên tòa thì đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hoặc nguyên đơn rút đơn khởi kiện.

Đối với việc kiểm sát hồ sơ phúc thẩm: do đương sự thỏa thuận với nhau tại phiên tòa phúc thẩm nên HĐXX sửa án sơ thẩm theo sự thỏa thuận này. KSV kiểm sát hoạt động này tại phiên tòa.

Qua công tác kiểm sát các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đối thoại thành, quyết định đình chỉ giải quyết, VKS đã phát hiện một số vi phạm như:  Ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sựthỏa thuận của các đương sự chưa đúng biểu mẫu; Áp dụng sai điều luật; Không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; v,v...

Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về trách nhiệm của VKS trong hoạt động hòa giải, đối thoại của BLTTDS, Luật TTHC; những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân như sau:

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, trong đó có hoạt động hòa giải, đối thoại khi Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự, vụ án hành chính. BLTTDS, Luật TTHC chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của VKS trong hoạt động hòa giải, đối thoại của Tòa án. Điều 209 BLTTDS và Điều 437 Luật TTHC quy định về thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đối thoại, không quy định VKS tham gia các phiên họp này. Do đó, VKS chỉ kiểm sát hoạt động hòa giải, đối thoại sau khi Tòa án đã tiến hành hòa giải, đối thoại thành, tức là kiểm sát các quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, các quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, quyết định đình chỉ giải quyết vụ, việc trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, do đó việc kiểm sát nội dung hòa giải, trình tự, thành phần tham gia hòa giải hầu như không thực hiện được, chỉ khi hòa giải, đối thoại không thành, Tòa án tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án và chuyển hồ sơ để VKS tham gia phiên tòa (đối với những vụ án quy định tại Điều 21 BLTTDS, riêng án hành chính VKS tham gia tất cả các phiên tòa), lúc này VKS mới kiểm sát hoạt động hòa giải, đối thoại của Tòa án thông qua các biên bản hòa giải, đối thoại có tại hồ sơ và tham gia hòa giải tại phiên tòa.

Mặc dù BLTTDS và Luật TTHC chỉ quy định thủ tục hòa giải là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ở cấp sơ thẩm (trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, tuy nhiên thực tế để bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt và nguyên tắc tự thỏa thuận của đương sự, tại phiên tòa, KSV vẫn phối hợp với HĐXX phân tích, giải thích, tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (có nhiều vụ án các đương sự đã thỏa thuận về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa trên cơ sở hòa giải của người tiến hành tố tụng).

         BLTTDS và Luật TTHC quy định thẩm quyền kiểm sát của VKS tại Điều 21 BLTTDS và Điều 25 Luật TTHC, đây là cơ sở pháp lý để VKS kiểm sát hoạt động hòa giải, đối thoại của Tòa án thông qua các quyết định, bản án. VKS thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị trong trường hợp phát hiện có vi phạm về thông báo phiên hòa giải, trình tự hòa giải, thành phần tham gia hòa giải, đối thoại... Trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thỏa thuận, cam kếtlà do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm.                 Công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính của Tòa án giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử, giảm số lượng các vụ, việc có tranh chấp mà Tòa án phải giải quyết; tạo thuận lợi đối với quá trình thi hành án vì khi hòa giải, đối thoại thành các bên cũng tự nguyện thi hành; tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức của cả đương sự và Nhà nước...

         Khó khăn, vướng mắc: Theo quy định hiện hành, VKS chỉ kiểm sát hoạt động hòa giải, đối thoại của Tòa án chủ yếu dựa trên quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự và quyết định đình chỉ vụ án do hòa giải, đối thoại thành mà không trực tiếp tham gia phiên họp hòa giải, đối thoại, không nghiên cứu hồ sơ nên rất khó có thể phát hiện được các vi phạm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS.

Nguyên nhân chủ yếu do BLTTDS, Luật TTHC và những văn bản khác liên quan còn chưa quy định cụ thể, đầy đủ về quyền hạn, trách nhiệm của VKS trong việc kiểm sát công tác hòa giải, đối thoại của Tòa án dẫn đến hiệu quả trong công tác kiểm sát hoạt động này chưa cao.

Để hoạt động hòa giải, đối thoại có hiệu quả hơn cũng như nâng cao trách nhiệm của VKS trong công tác này, chúng tôi có một số kiến nghị sau:

Thứ nhất,Cần sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Luật TTHC để quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của VKS trong hoạt động hòa giải, đối thoại khi kiểm sát giải quyết vụ, việc dân sự, vụ án hành chính.

 Trong một số vụ án phức tạp tranh chấp liên quan đến đất đai, nhiều đương sự… cần quy định thêm thành phần tham gia hòa giải, đối thoại là KSV để kiểm sát hoạt động hòa giải, đối thoại đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật đồng thời giúp KSV chủ động hơn khi tham gia phiên tòa…

Bổ sung vào BLTTDS quy định việc Tòa án gửi biên bản hòa giải thành cho VKS ngay sau khi lập biên bản (thực tế có trường hợp quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự không đúng với nội dung biên bản, khi hòa giải nhưng thiếu thành phần tham gia (trường hợp có nhiều đương sự) Tòa án vẫn công nhận thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác…

Bổ sung vào Luật TTHC quy định Viện kiểm sát tham gia đối thoại những vụ án phức tạp liên quan đến lợi ích của nhà nước và doanh nghiệp để KSV chủ động trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án. Bởi đối tượng bị kiện trong các vụ án hành chính chủ yếu là Chủ tịch UBND, người có chức vụ quyền hạn mà quyết định của họ trong một số trường hợp ảnh hưởng đến sự tồn tại của tổ chức, doanh nghiệp cũng như việc làm, đời sống của người lao động làm việc tại doanh nghiệp đó.

 Thứ hai, Bổ sung quy định người tiến hành tố tụng tại phiên tòa (HĐXX, KSV được hòa giải trong giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa, bởi Điều 246 BLTTDS quy định: Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không; trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án”, quy định này nằm ngay trong thủ tục bắt đầu phiên tòa, tuy nhiên, thực tế ở giai đoạn này các đương sự thường không tự thỏa thuận được với nhau và chỉ khi có sự giải thích, phân tích của HĐXX, KSV về những lợi ích khi các đương sự đạt được sự thỏa thuận trong việc giải quyết vụ án thì các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Tác giả bài viết: Ngô Thọ Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

báo bảo vệ pháp luật
Quản lý án dân sự
VKS Quảng Nam
thư viện pháp luật
Hộp thư điện tử
Tạp chí kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
Truyền hình kiểm sát
Đại học kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 643

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 91249

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12937003

video