13:50 ICT Thứ năm, 21/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết » Vụ án

Những vấn đề rút kinh nghiệm từ một bản án bị hủy, sửa

Thứ hai - 02/03/2015 16:27
Ngày 07/01/2015 Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án “Ly hôn” giữa: * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hạnh – sinh năm: 1981 * Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Hùng – sinh năm: 1976 Cùng địa chỉ: K58/17 Dũng Sỹ Thanh Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; tuyên hủy, đình chỉ một phần Bản án sơ thẩm số 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, do Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Cụ thể:
Những vấn đề rút kinh nghiệm từ một bản án bị hủy, sửa

Những vấn đề rút kinh nghiệm từ một bản án bị hủy, sửa

 

I/ Nội dung vụ án:

Ngày 5/5/2014 TAND quận Thanh Khê thụ lý vụ án ly hôn theo Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hạnh đối với ông Nguyễn Xuân Hùng. Quá trình giải quyết hai bên thống nhất thuận tình ly hôn và giao con chung Nguyễn Ngọc Phương Thảo – sinh ngày 16/9/2005 cho bà Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hùng cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu Thảo thành niên. Vợ chồng xác định có tài sản chung là nhà và đất tại địa chỉ K58/17 Dũng Sỹ Thanh Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân; Tuy nhiên về quan hệ nợ chung, ông Hùng, bà Hạnh tranh chấp không giải quyết được.

- Theo bà Hạnh, vợ chồng có các khoản nợ chung gồm: Nợ Ngân hàng TMCP An Bình phòng giao dịch Trưng Nữ Vương 400.000.000đ tiền gốc và tiền lãi phát sinh; Nợ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh quận Thanh Khê số tiền gốc 27.340.000đ và tiền lãi phát sinh; Nợ bà Lê Thị Thu Hà 15.700.000đ; Nợ bà Nguyễn Thị Hằng 15.000.000đ; Nợ ông Dương Văn Bảy số tiền 20.000.000đ; Nợ ông Ngô Văn Hiền số tiền 5.000.000đ; Nợ bà Nguyễn Thị Hương số tiền 43.000.000đ; Nợ ông Lương Hồng Quân số tiền 7.000.000đ. Ly hôn, bà Hạnh đề nghị Tòa án chia đôi tài sản chung và nợ chung.

- Theo ông Hùng: Nhà và đất tại địa chỉ K58/17 Dũng Sỹ Thanh Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng là tài sản chung vợ chồng nhưng được hình thành từ các khoản nợ chung của vợ chồng gồm nợ mẹ ông Hùng là bà Nguyễn Thị Nhũ 320 chỉ vàng 9999 và nợ chị ông là bà Nguyễn Thị Hương 62.000.000đ, vợ chồng ông chưa trả các nợ chung này. Trong các khoản nợ bà Hạnh trình bày, ông xác định khoản nợ của Ngân hàng NN&PTNT là là nợ riêng của bà Hạnh. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

          - Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Hương trình bày: ngày 03/8/2013 bà có cho vợ chồng em trai mượn số tiền 62.000.000đ để làm nhà. Số tiền này bà đưa trực tiếp cho em trai. Nay ông Hùng, bà Hạnh ly hôn đề nghị Tòa án buộc ông Hùng bà Hạnh trả nợ cho bà.

Bà Nguyễn Thị Nhũ trình bày: Bà có cho vợ chồng con trai mượn 320 chỉ vàng 9999. Nay ông Hùng, bà Hạnh ly hôn đề nghị Tòa án buộc ông Hùng bà Hạnh trả nợ cho bà.

          Bản án sơ thẩm số 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của TAND quận Thanh Khê đã quyết định: “1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị Hạnh đối với ông Nguyễn Xuân Hùng...

          2. Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con chung…

          3. Về tài sản chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hạnh được quyền sở hữu ngôi nhà và quyền sử dụng đất…

          4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hạnh có nghĩa vụ trả các khoản nợ chung là:

          - Trả cho Ngân hàng TMCP An Bình, phòng giao dịch Trưng Nữ Vương số tiền 400.000.000đ tiền gốc và  tiền lãi phát sinh đến ngày 22.9.2014 là 14.918.456đ

          - Trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh quận Thanh Khê số tiền gốc 27.340.000đ và tiền lãi phát sinh đến ngày 22.9.2014 là 97.673đ

          - Trả cho bà Lê Thị Thu Hà số tiền 15.700.000đ

          - Trả cho bà Nguyễn Thị Hằng số tiền 15.000.000đ

          - Trả cho ông Dương Văn Bảy số tiền 20.000.000đ

          - Trả cho ông Ngô Văn Hiền số tiền 5.000.000đ

          - Trả cho bà Nguyễn Thị Hương số tiền 62.000.000đ

          - Trả cho  ông Lương Hồng Quân số tiền 7.000.000đ

          - Trả cho bà Nguyễn Thị Nhũ số tiền 518.720.000đ tương đương 160 chỉ vàng 9999 tại thời điểm xét xử là ngày 23.9.2014…

          Về nợ riêng: Xử ông Hùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Nhũ số tiền 518.720.000đ tương đương 160 chỉ vàng 9999 tại thời điểm xét xử…”

 

Bản án sơ thẩm nói trên đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Đồng thời bị bà Hạnh, ông Hùng và bà Nhũ kháng cáo.

Bản án DSPT số 01/2015/HNGĐ-PT ngày 07/01/2015 của TAND TP Đà Nẵng đã quyết định chấp nhận Kháng nghị của VKSND TP Đà Nẵng; chấp nhận kháng cáo của bà Hạnh và tuyên xử:

“....Hủy, đình chỉ giải quyết đối với khoản nợ của bà Nguyễn Thị Nhũ tại Bản án sơ thẩm số 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của TAND quận Thanh Khê…

… Sửa Bản án sơ thẩm số 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của TAND quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng đối với khoản nợ của bà Nguyễn Thị Hương

-         Xác định số tiền bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Nguyễn Xuân Hùng nợ bà Nguyễn Thị Hương là 43.000.000đ…”.

Ngoài ra Bản án phúc thẩm còn sửa các nội dung liên quan về trích trả giá trị chênh lệch và án phí DSST các bên đương sự phải chịu theo đúng quy định pháp luật.

II/ Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

1/ Về việc giải quyết khoản nợ 320 chỉ vàng 9999 của bà Nhũ:

Theo bà Nhũ trình bày: Năm 2002 bà Nhũ cho ông Hùng mượn 16 cây vàng. Tiếp đến năm 2004 bà cho Hùng mượn thêm 16 cây vàng. Mục đích để mua đất, mua nhà và sắm đồ cưới vợ nhưng không lập giấy tờ. Hai năm sau bà Nhũ và ông Hùng mới lập Hợp đồng vay mượn vàng nhưng hợp thức ghi lùi thời gian lại hai năm là năm 2004. Việc vay mượn vàng do bà và con trai thỏa thuận, bà không biết con dâu có biết hay không. Bà không yêu cầu độc lập mà chỉ trình bày ý kiến của mình để Tòa án xem xét giải quyết trong vụ án ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết số nợ đó, buộc ông Hùng, bà Hạnh trả số vàng cho bà… Kèm theo lời trình bày, ông Hùng, bà Nhũ cung cấp Hợp đồng cho vay vàng mua nhà ở thể hiện ngày 10/8/2004 bà cho ông Hùng vay 320 chỉ vàng, chia hai đợt, đợt một 170 chỉ, đợt hai 150 chỉ. Tại Hợp đồng thể hiện đại diện cho bên vay ghi con trai và con dâu nhưng chỉ có chữ ký của ông Hùng, không có chữ ký của bà Hạnh.

Bản án DSST của TAND quận Thanh Khê đã xác định trong số nợ 320 chỉ vàng 9999 của bà Nhũ có 160 chỉ vàng là nợ chung vợ chồng ông Hùng, bà Hạnh và 160 chỉ vàng là nợ riêng của ông Hùng.

* Sai phạm trong việc giải quyết khoản nợ chung 160 chỉ vàng: Từ chứng cứ và lời trình bày của ông Hùng, bà Nhũ cho thấy khoản nợ 320 chỉ vàng giữa bà Nhũ, ông Hùng được hình thành trước khi ông Hùng cưới vợ và hoàn toàn không có ý kiến đồng thuận từ phía bà Hạnh.

Ông Hùng xác định vợ chồng có nợ chung đối với bà Nhũ 320 chỉ vàng 9999 nhưng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh được về việc bà Hạnh ủy quyền cho ông Hùng đại diện ký tên vào Giấy vay vàng hoặc đồng thuận với việc vay mượn nợ này và xác nhận đây là khoản nợ chung của hai vợ chồng. Do đó không có cơ sở nào để xác định đây là món nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông Hùng, bà Hạnh như trình bày của ông Hùng, bà Nhũ. Ý kiến của bà Hạnh cho rằng đây không phải nợ chung vợ chồng và bà không có trách nhiệm trả nợ là có căn cứ để chấp nhận.

Bản án sơ thẩm xác định trong khoản nợ 320 chỉ vàng giữa ông Hùng và bà Nhũ  có 160 chỉ là nợ chung mà vợ chồng Hùng, Hạnh phải có trách nhiệm cùng trả với nhận định “…mặc dù bà Hạnh cho rằng không biết số nợ này nhưng tài sản là nhà và đất hiện nay mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc một phần từ khoản vay mượn này của bà Nguyễn Thị Nhũ…” là thiếu khách quan, sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hạnh, vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ khi ly hôn theo Điều 95 Luật hôn nhân gia đình.

Bởi nếu cho rằng việc hình thành nên nhà đất tại K58/17 Dũng sỹ Thanh Khê có nguồn gốc một phần từ khoản vay cá nhân của ông Hùng với bà Nhũ thì cần thấy rằng ông Hùng đã tự nguyện sáp nhập khoản tiền của cá nhân trước thời kỳ hôn nhân vào việc hình thành tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc vay mượn nợ của ông Hùng trước thời kỳ hôn nhân và không được sự đồng ý của bà Hạnh nên không thể buộc bà Hạnh phải chịu trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ này, mà chỉ có thể xem xét về công sức đóng góp của ông Hùng trong khối tài sản chung của vợ chồng nếu có đủ căn cứ.

* Sai phạm trong việc giải quyết khoản nợ riêng 160 chỉ vàng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nhũ trình bày đề nghị Tòa án buộc ông Hùng bà Hạnh trả nợ cho bà khoản nợ 320 chỉ vàng 9999. Tuy nhiên bà Nhũ cũng xác định đó không phải là yêu cầu độc lập của bà mà chỉ “trình bày ý kiến của mình để Tòa án xem xét giải quyết nợ của ông Hùng, bà Hạnh cho tôi khi Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Xét thấy yêu cầu đòi nợ của bà Nhũ đối với khoản nợ 320 chỉ vàng 9999 về bản chất chính là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên bà Nhũ đã tự xác định bà không đưa ra yêu cầu độc lập trong vụ án này mà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nợ của ông Hùng, bà Hạnh trong phạm vi vụ án ly hôn. Quyền quyết định không đưa ra yêu cầu độc lập của bà Nhũ là phù hợp với nguyên tắc TTDS quy định tại Điều 5 BLTTDS về quyền tự định đoạt của đương sự. Theo đó Tòa án chỉ giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

Bản án sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê đã xác định trong khoản nợ 320 chỉ vàng 9999 của ông Hùng mượn của bà Nhũ có 160 chỉ là nợ riêng của ông Hùng, không phải nợ chung của vợ chồng và tuyên buộc: “ Về nợ riêng: Xử ông Hùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Nhũ số tiền 518.720.000 đồng, tương đương 160 chỉ vàng 999 tại thời điểm xét xử…” là xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS đã viện dẫn trên và vượt quá phạm vi khởi kiện quy định tại Điều 163 BLTTDS.

Cùng với sai phạm trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết quan hệ nợ riêng giữa ông Hùng và Nhũ nhưng không tính án phí trên số tiền tuyên buộc ông Hùng phải trả là gây thiệt hại cho nguồn thu ngân sách nhà nước.

2/Về việc giải quyết khoản nợ chung 62 triệu đồng của bà Hương:

Giấy mượn tiền ngày 5/7/2013 do bà Hương cung cấp thể hiện Bên vay là ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Nguyễn Thị Hạnh nhưng ký tên bên dưới chỉ có một mình cá nhân ông Hùng. Ông Hùng không cung cấp được bất cứ tài liệu chứng cứ nào thể hiện bà Hạnh đã ủy quyền cho ông đại diện đứng ra ký Giấy vay tiền này; ông Hùng cũng không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh được ông đã sử dụng khoản tiền 62 triệu đồng này để “phục vụ cho việc xây nhà, tạo dựng tài sản chung của vợ chồng” như nhận định tại Bản án sơ thẩm, do đó không có cơ sở để xác định khoản nợ 62 triệu theo Giấy vay tiền ngày 5/7/2012 là nợ chung của vợ chồng như trình bày của ông Hùng.

Trong số tiền này, bà Hạnh chỉ thừa nhận vợ chồng có nợ bà Hương 43 triệu đồng. Như vậy chiếu theo quy định tại các Điều 79, 80 BLTTDS thì chỉ có cơ sở để chấp nhận khoản nợ 43 triệu đồng như lời trình bày của bà Hạnh. Do đó Bản án sơ thẩm xác định khoản nợ chung của vợ chồng đối với bà Hương 62 triệu đồng là không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ khi ly hôn.

3/ Vi phạm thủ tục tố tụng:

Biên bản xác minh ngày 18/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê do thư ký Pham Thị Thu Ba tiến hành chứ không phải thẩm phán  được phân công giải quyết vụ việc tiền hành là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bởi lẽ bà Thu Ba không có thẩm quyền tiến hành hoạt động xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS.

Những sai phạm trên của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó đã bị VKSND TP Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, quyết định hủy, đình chỉ một phần Bản án sơ thẩm, đồng thời sửa nội dung còn lại của Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật.

Từ vụ án nói trên có thể thấy ngoài việc thu thập chứng cứ đầy đủ thì để giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và chính xác trên cơ sở đảm bảo đúng quy định về nghĩa vụ chứng minh quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Bạch Tuyết - P5

Tổng số điểm của bài viết là: 6 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Đại học kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao
Truyền hình kiểm sát
Tạp chí kiểm sát
Hộp thư điện tử
Quản lý án dân sự
Phần mềm quản lý án hình sự
thư viện pháp luật
báo bảo vệ pháp luật
VKS Quảng Nam

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Thành viên online : 1

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 38


Hôm nayHôm nay : 3082

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 128991

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9219039

Bình yên trên vùng đất mới