18:01 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Tin VKS TP Đà Nẵng » Dân sự

Thanh Khê ban hành kháng nghị phúc thẩm vụ án Hôn nhân gia đình

Thứ năm - 19/11/2015 15:07
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết án hôn nhân gia đình đối với vụ án “Ly hôn” giữa Nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc; sinh năm: 1960, trú 109 Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng và Bị đơn là bà Nguyễn Thị Hường; sinh năm: 1963, trú số 54 Phan Thanh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2015/HNGĐ-ST ngày 29/10/2015 của Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Buộc ông Nguyễn Ngọc phải trích trả lại cho bà Nguyễn Thị Hường số tiền là : 6.240.127.000 đồng.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc phải trích trả lại cho Nguyễn Thị Hường 35 cây vàng SJC.

- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc Sương về việc yêu cầu ông Nguyễn Ngọc hoàn trả số tiền là: 345.000.000 đồng.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Sương số tiền là 3.355.000.000 đồng…”

Ngày 06/11/2015 ông Nguyễn Ngọc có đơn kháng cáo một phần nội dung bản án nói trên.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận thấy có vi phạm nghiêm trọng về mặt nội dung vụ án, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc. Cụ thể:

* Tòa buộc ông Nguyễn Ngọc phải trích trả cho bà Nguyễn Thị Hường số tiền: 8.086.000.000 đồng.

Số tiền này, Tòa xác định từ các khoản tiền mà bà Hường cho rằng ông Ngọc quản lý và yêu cầu Tòa án chia, gồm có:

- Tiền mặt rút ra tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Thương Tín (Saccombank) là 3.000.000.000 đồng. Ông Ngọc khai nhận rằng, số tiền này ông Ngọc và bà Hường rút ra để mua bán lô đất 900m2 đường Nguyễn Hữu Thọ của bà Trần Thị Bích Thủy. Bà Hường cho rằng số tiền này ông Ngọc quản lý, bà Hường không biết bà Thủy là ai, ở đâu và không biết về việc mua bán này. Trong công văn phúc đáp của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Thương Tín (Saccombank) về các giao dịch của số tài khoản 170421100901102245 của ông Ngọc, ngày 01.9.2007 ông Ngọc có chuyển khoản cho bà Thủy. Như vậy, giao dịch này là có thật, ông Ngọc không còn quản lý số tiền này. Tuy nhiên, ông Ngọc chưa cung cấp được các giấy tờ hợp đồng mua bán đất với bà Thủy. Đồng thời, Tòa cũng không tiến hành xác minh làm rõ vấn đề này, không hướng dẫn cho ông Ngọc về quyền yêu cầu Tòa tiến hành xác minh khi ông Ngọc không thể tự thực hiện. Từ đó, Tòa xử buộc ông Ngọc đang quản lý số tiền trên theo lời khai của bà Hường và chia cho bà Hường là không đúng căn cứ pháp luật.

- Tiền mặt rút ra tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng là 11.362.000.000 đồng gồm 9 mục, cụ thể: Ngày 14/01/2008 rút: 1.210.000.000 đồng. Ngày 31/5/2010 rút: 300.000.000 đồng. Ngày 21/6/2010 rút: 2.100.000.000 đồng. Ngày 24/7/2010 rút: 400.000.000 đồng. Ngày 03/8/2010 rút: 1.100.000.000 đồng. Ngày 09/11/2010 rút: 402.000.000 đồng. Ngày 21/01/2011 rút: 1.070.000.000 đồng. Ngày 22/01/2011 rút: 208.000.000 đồng. Ngày 24/01/2011 rút: 4.500.000.000 đồng.

Theo bản sao kê tài khoản chi tiết từ ngày 18/01/2007 đến ngày 21/5/2015 của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam-chi nhánh Đà Nẵng về số tài khoản 101010001043672 của ông Ngọc, số dư trong tài khoản đến ngày 05/5/2015 chỉ còn: 351.604 đồng.

Nhận thấy, trong tổng số tiền 28.740.867.520 đồng mà ông Ngọc đã rút ra từ tài khoản Ngân hàng Công thương Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng. Bà Hường yêu cầu chia 9 mục tiền mặt, 11.362.000.000 đồng và 1.810.000.000 đồng tiền rút ra gửi tiết kiệm, số còn lại không yêu cầu chia, thì thấy: Đây là bảng sao kê tài khoản chi tiết của ông Ngọc. Các khoản bà Hường yêu cầu là do ông Ngọc chủ tài khoản rút tiền từ năm 2008 đến năm 2011, để giao dịch mua bán đất, vàng, ô tô, sửa chữa nhà…Tại thời điểm bà Hường yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì số tiền đó không còn. Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tự ý chia tài sản chung của vợ chồng khi tài sản đó không còn là không có căn cứ pháp luật. Nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu chia tài sản của bà Hường đối với khoản tiền này.

* Buộc ông Nguyễn Ngọc phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Sương số tiền là 3.355.000.000 đồng.

Bà Sương là chủ sở hữu thửa đất số 1280, tờ bản đồ số KT01/1, tại Lô 1280 khu dân cư Tây Nam Hòa Cường, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng. Ngày 05/11/2010, bà chuyển nhượng thửa đất nói trên cho vợ chồng ông Tú và bà Châu với giá 3.700.000.000 đồng. Do không có tài khoản ngân hàng riêng nên bà đã dùng tài khoản ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Đà Nẵng của ông Ngọc để nhận số tiền do ông Tú và bà Châu trả tiền mua đất, cụ thể ngày 05/11/2010, ông Tú đã chuyển vào tài khoản nói trên số tiền lần một là 2.645.000.000 đồng và lần hai là 710.000.000 đồng. Bà Sương cho rằng ông Ngọc đang quản lý số tiền này và yêu cầu ông Ngọc phải trả 3.355.000.000 đồng cho bà Sương.

Ông Ngọc thừa nhận: ông đang quản lý số tiền nói trên đúng như bà Sương trình bày. Tuy nhiên ông Ngọc không đồng ý trích trả số tiền: 3.355.000.000 đồng cho bà Sương. Vì số tiền này chuyển vào tài khoản gia đình do ông đứng tên giao dịch, đã được rút ra kinh doanh đất đai cũng như mua vàng… Ông Ngọc xác định đây là khoản nợ chung của hai vợ chồng là có cơ sở. Việc Tòa tuyên buộc mình ông Ngọc trả cho bà Sương là chưa chính xác mà cần phải buộc vợ chồng ông Ngọc bà Hường có nghĩa vụ trả cho bà Sương là phù hợp.

* Buộc ông Nguyễn Ngọc phải trích trả lại cho Nguyễn Thị Hường 35 cây vàng SJC.

Ông Ngọc cho rằng ông và bà Hường cùng nhau mua 92 cây vàng SJC, hiện nay bà Hường đang quản lý số vàng và hóa đơn mua bán, ông Ngọc yêu cầu Tòa án chia số vàng này mỗi người 46 cây vàng. Bà Hường cho rằng ông Ngọc mua 70 cây vàng SJC tại Trung tâm vàng bạc đá quý Đà Nẵng, ông Ngọc không rút tiền từ ngân hàng về giao cho bà mua vàng. Bà Hường có cung cấp bản photo Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 21/6/2010 tại Trung tâm vàng bạc đá quý Đà Nẵng về việc mua bán 70 cây vàng SJC với số tiền là 2.012.500.000 đồng.

Số vàng này ông Ngọc và bà Hường khai nại không giống nhau về số lượng là do người kia đang giữ. Nhưng thực tế thì không ai xác định là có số vàng này nên không có căn cứ để chia.

Vì vậy, việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng chấp nhận yêu cầu của bà Hường, xử buộc ông Ngọc trích trả cho bà Hường 35 cây vàng SJC là không có căn cứ.

Từ những vi phạm nêu trên, ngày 11/11/2015, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ án nêu trên đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện ban hành Kháng nghị số 03/QĐKNPT/VKS-DSkháng nghị một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2015/HNGĐ-ST ngày 29/10/2015 của Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo thủ tục phúc thẩm, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2015/HNGĐ-ST ngày 29/10/2015  của Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng như phân tích trên. 

Tác giả bài viết: Quang Vương-VKSND quận Thanh Khê

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

báo bảo vệ pháp luật
Hộp thư điện tử
Tạp chí kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự
thư viện pháp luật
Viện kiểm sát tối cao
Truyền hình kiểm sát
VKS Quảng Nam
Đại học kiểm sát
Quản lý án dân sự

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 35

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 4455

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 161112

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9679783

Bình yên trên vùng đất mới