18:41 ICT Thứ sáu, 22/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Tin VKS TP Đà Nẵng » Dân sự

Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà ban hành 02 quyết định kháng nghị phúc thẩm án dân sự trong tháng 9 năm 2014

Thứ ba - 28/10/2014 09:03
Thông qua công tác kiểm sát xét xử và kiểm sát bản án, quyết định, VKSND quận Sơn Trà đã phát hiện 02 Bản án có vi phạm nghiêm trọng pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nên đã ban hành 02 Quyết định kháng nghị phúc thẩm. Cụ thể:

 

1/ Bản án KDTM sơ thẩm số 11/2014/KDTM-ST ngày 22/8/2014 của TAND quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng giải quyết vụ án “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” giữa:

 * Nguyên đơn: Công ty Cổ phần điện máy REE.

* Bị đơn:Công ty TNHH  VI AN.  

Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên đã quyết định:

“Áp dụng các điều 3, 49, 50, 306 Luật thương mại;

- Áp dụng điều 176 BLTTDS;

- Pháp lệnh án phí, lệ phí toà án năm 2009;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện v/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá giữa nguyên đơn Công ty CP điện máy Ree đối với bị đơn Công ty TNHH Vian.…

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Vi an đối với Công ty Cổ phần điện máy Ree là 234.960.000đồng…

Án phí KDTM sơ thẩm Công ty Cổ phần điện máy Ree phải chịu đối với phần bị bác yêu cầu là 17.925.345đ; án phí đối với phần chấp nhận phản tố là: 11.748.000đ…”

 

 Xét thấy Bản án sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Vi An: buộc Công ty Cổ phần điện máy REE phải thanh toán cho Công ty TNHH Vi An 234.960.000đồng (là số tiền mà Công ty TNHH Vi Anđã mua 33 máy điều hòa của các doanh nghiệp khác để thay thế) là không có cơ sở và trái với các quy định của pháp luật, bởi lẽ:

- Thứ nhất:

Công ty TNHH VIAN (gọi tắt là Công ty VIAN) cho rằng một số máy điều hòa mà Công ty Cổ phần điện máy REE (gọi tắt là Công ty REE) đã cung cấp và lắp đặt theo hợp đồng kinh tế số HĐ023/ĐN.10 ngày 30/8/2010 và 03 Phụ lục Hợp đồng kèm theo, là không đảm bảo chất lượng nên Công ty Vi An phải tự mua 33 máy điều hòa của các doanh nghiệp khác để thay thế. Tuy nhiên với các tài liệu mà Công ty VIAN cung cấp thì không có cơ sở nào xác định 33 máy điều hòa mà Công ty REE cung cấp và lắp đặt tại Khách sạn VIAN là không đảm bảo chất lượng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định trưng cầu giám định nhưng cả 02 đơn vị được trưng cầu giám định đều không giám định được chất lượng của các máy điều hòa này. Như vậy không có cơ sở để xác định 33 máy điều hoà mà Công ty REE lắp đặt không đảm bảo chất lượng theo như lời khai nại của nguyên đơn.

- Thứ hai:

Sau khi hoàn thành việc lắp đặt thì giữa Công ty REE và đại diện Công ty VIAN đã ký các biên bản nghiệm thu chạy thử liên động có tải vào các ngày 20/3/2012, 21/3/2012, 22/3/2012. Mặc dù về phía đại diện Chủ đầu tư là Giám đốc Chi nhánh Công ty TNHH  VI AN tại Đà Nẵng chưa ký các Biên bản nghiệm thu này nhưng đã được Giám sát trưởng và 02 Giám sát viên của phía Chủ đầu tư ký với kết luận là: Các bên đồng ý nghiệm thu.

- Thứ ba:

Tại thời điểm nghiệm thu, Giám đốc Chi nhánh Công ty TNHH  VI AN tại Đà Nẵng chưa ký các Biên bản nghiệm thu không vì lý do các máy điều hòa không đảm bảo chất lượng, điều này được minh chứng bởi các máy điều hòa đều được Công ty VIAN đưa vào sử dụng, khai thác cho đến ngày 18/6/2012 (tức 3 tháng sau) phía Công ty VIAN mới có Công văn số 01/VAĐN-2012 ngày 18/6/2012  gửi Công ty REE phản ánh một số máy điều hòa có trục trặc nhưng cũng không nêu rõ số lượng.

Sau khi nhận được công văn số 01/VAĐN-2012  ngày 18/6/2012 nêu trên thì Công ty REE đã đến kiểm tra, khắc phục, điều này được thể hiện bởi việc sau thời điểm này hai bên tiếp tục ký hợp đồng số HĐ 015/ĐN.12 ngày 31/08/2012, để tiến hành cung cấp vật tư và di dời 12 dàn nóng máy điều hoà không khí đến vị trí mới theo yêu cầu của Công ty VIAN.

Công ty REE chỉ không thực hiện việc kiểm tra, sửa chữa, bảo hành kể từ sau ngày 20/9/2012, là thời điểm mà hai bên ký biên bản nghiệm thu khối lượng thực tế của hợp đồng số HĐ 015/ĐN.12 ngày 31/08/2012. Lý do Công ty REE không thực hiện việc bảo hành là do Công ty VIAN không thanh toán số tiền còn thiếu của 02 hợp đồng và 03 Phụ lục hợp đồng kèm theo.

- Thứ tư:

Phía Công ty VIAN cho rằng Công ty REE không thực hiện việc bảo hành nên Công ty VIAN phải tựmua 33 máy điều hòa nhãn hiệu Daikin của các doanh nghiệp khác với số tiền 234.960.000đồng để thay thế, nên yêu cầu Công ty REE phải thanh toán lại 234.960.000đồng là không phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Cụ thể:

- Theo điều khoản thanh toán và điều khoản bảo hành của hợp đồng kinh tế số HĐ023/ĐN.10 ngày 30/8/2010, 03 Phụ lục Hợp đồng kèm theo vàHĐ 015/ĐN.12 ngày 31/08/2012  thì các bên thoả thuận nghĩa vụ thanh toán của Công ty VIAN được thực hiện trước, nghĩa vụ bảo hành của Công ty REE được thực hiện sau. TheoKhoản 2 Điều 415 BLDS thì:

“2. Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn”.

Vì vậy việccông ty REE không thực hiện việc bảo hành sau ngày 20/9/2012 như đã phân tích ở trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp xác định 33 máy điều hoà mà Công ty REE cung cấp không đảm bảo chất lượng và Công ty REE đã vi phạm nghĩa vụ bảo hành như lời khai nại của bị đơn thì việc xử lý trong trường hợp này cũng phải được thực hiện theo các quy định tại các Điều 444, 445, 446 Bộ luật Dân sự.

Theo các quy định tại các Điều 444, 445, 446 Bộ luật Dân sự thì trong trường hợp 33 máy điều hoà mà Công ty REE cung cấp không đảm bảo chất lượng và Công ty REE đã vi phạm nghĩa vụ bảo hành thì chỉ được yêu cầu Công ty REE sửa chữa, hoặc yêu cầu đổi máy điều hoà khỏc hoặc trả lại các máy điều hoà không đảm bảo chất lượng và yêu cầu Công ty REE trả lại số tiền tương ứng của 33 máy điều hoà mà Công ty VIAN đã mua của Công ty REE trong trường hợp đã thanh toán. Trong vụ án này, Công ty VIAN còn nợ Công ty REE  598.332.268 đ là vượt quá giá trị của 33 máy điều hoà nêu trên nghĩa là Công ty VIAN chưa thanh toán tiền của 33 máy điều hoà này nên Công ty VIAN không có quyền yêu cầu Công ty REE trả lại tiền. Trong trường hợpCông ty VIAN tự thay thế các máy điều hoà khác thì phải tự chịu trách nhiệm.

Mặt khác giá tiền của 33 máy điều hoà nhãn hiệu Daikin mà Công ty VIAN mua của các doanh nghiệp khác là cao hơn so với giá tiền của 33 máy điều hoà nhãn hiệu Reetech mà Công ty REE cung cấp nên không có cơ sở để chấp nhận giá trị mà Công ty VIAN đã yêu cầu. Đồng thời việc Công ty VIAN tự mua 33 máy điều hoà của các doanh nghiệp khác, tự lắp đặt, không có cơ sở xác định là để thay thế cho 33 máy điều hoà của Công ty REE.

Do đó việc Công ty VIAN yêu cầu Công ty REE thanh toán lại số tiền mà Công ty VIAN mua 33 máy điều hoà của các doanh nghiệp khác để thay thế là không có cơ sở để chấp nhận.

Về Án phí KDTM sơ thẩm:

Bản án sơ thẩm buộc Công ty Cổ phần điện máy REE phải thanh toán cho Công ty TNHH Vi An 234.960.000đồng là không đúng nên việc Bản án sơ thẩm buộc Công ty Cổ phần điện máy REE phải chịu 11.748.000 đ án phí KDTM sơ thẩm do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận là không có cơ sở.

Từ những vi phạm nghiêm trọng nêu trên, VKSND quận Sơn Trà đã ban hành kháng nghị, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩmvụ kiện theo hướng sửa một phần Bản án nêu trên, bác yêu cầu phản tố và sửa phần án phí cho phù hợp.

2/ Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2014/DS-ST ngày 25/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Sơn Tràgiải quyết vụ ányêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã cam kết” giữa: 

 *Nguyên đơn: Ông Châu Vĩnh Long – sinh năm: 1970 và ông Châu Đình Sương– sinh năm: 1968

 *Bị đơn:   Bà Lê Thị Hạnh – sinh năm: 1954.

 * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên  quanỦy ban nhân dân phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

  Tại Bản án nêu trên đãquyết định: Áp dụng các Điều305, 302 và476 Bộ luật dân sự.

1. Tuyên bố:

1. 1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Châu Vĩnh Long và ông Châu Đình Sương về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã cam kết đối với bà Lê Thị Hạnh.

1.2 Xử: Buộc bà Lê Thị Hạnh phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết ký các giấy tờ có liên quan tại UBND phường An Hải Đông để bàn giao 100.000.000 đồng và tiền lãi là 6.000.000 đồng cho ông Châu Vĩnh Long, ông Châu Đình Sương.

Bà Lê Thị Hạnh được nhận tiền lãi phát sinh trên số tiền 100.000.000 đồng  từ ngày UBND phường An Hải Đông gửi tại Ngân hàng cho đến khi bản án có hiệu lực…

2. Án phí dân sự sơ thẩm: 5.300.000 đồng bà Lê Thi Hạnh phải chịu”.

 Về thủ tục tố tụng

Không thông báo cho VKSND quận Sơn Trà tham gia phiên tòa:

Ông Châu Vĩnh Long, Châu Đình Sương khởi kiện yêu cầu bà Hạnh phải trả 100.000.000 đồng và lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Số tiền 100.000.000 đồng được nguyên đơn xác định là số tiền mà bà Lê Thị Hạnh thỏa thuận tại UBND phường An Hải Đông về việc nhận chuyển nhượng bức tường và quyền sử dụng đất có chiều dài 25,56m, rộng 0,1m (được xác định là tài sản chung của hai hộ nhưng đang có tranh chấp).

Như vậy tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất.

Do đó vụ án thuộc trường hợp phải có Viện kiểm sat tham gia phiên tòa theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS và Khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012-TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 1/8/2012.

Tuy nhiên TAND quận Sơn Trà không thông báo cho VKSND quận Sơn Trà để cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

- Không đưa ông Nguyễn Tôn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Theo GCNQSDĐ do UBND quận Sơn Trà cấp vào ngày 31/3/2006 thì ông Nguyễn Tôn và bà Lê Thị Hạnh được quyền sở hữu và sử dụng ngôi nhà và diện tích đất tại K54/51 Lê Hữu Trác. Trong đó tứ cận về phía Bắc: đoạn 11m44 là tường nhà của hộ bà Hạnh, các đoạn còn lại là tường rào chung với hộ ông Châu Keo (nay là hộ Châu Vĩnh Long, Châu Đình Sương) làm ranh giới (Biên bản xác định hiện trạng ranh giới, mốc giới thửa đất của nhà bà Hạnh, ông Tôn được lập ngày 15/04/2000).

Như vậy việc thỏa thuận, định đoạt liên quan đến bức tường này và quyền sử dụng đất gắn liền bức tường cũng như việc xác định ranh giới đất giữa hộ ông Nguyễn Tôn và bà Lê Thị Hạnh và hộ Châu Vĩnh Long, Châu Đình Sương phải có ý kiến của ông Nguyễn Tôn.

Trong quá trình các bên thỏa thuận tại UBND phường An Hải Đông liên quan đến việc “chuyển nhượng” tài sản nêu trên và xác định ranh giới đất thì có sự tham gia của bà Nguyễn Thị Minh Sơn với tư cách là người được ông Nguyễn Tôn ủy quyền.

Do đó, việc TAND quận Sơn Trà khi giải quyết tranh chấp không đưa ông Nguyễn Tôn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

* Về nội dung:

- Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, bởi lẽ: Trong trường hợp xác định thỏa thuận giữa hộ ông Châu Vĩnh Long và ông Châu Đình Sương với hộ bà Hạnh là thỏa thuận về việc chuyển nhượng bức tường và quyền sử dụng đất (theo lời khai nại của bị đơn chỉ thoả thuận hỗ trợ để ông Long xây lại bức tường riêng biệt) thì thỏa thuận này chưa phát sinh hiệu lực pháp luật vì chưa được lập thành hợp đồng và chưa được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Do đó thỏa thuận này không có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải thực hiện.

- Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng lại buộc bà Hạnh phải ký các giấy tờ có liên quan tại UBND phường An Hải Đông là không phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: Ông Châu Vĩnh Long và ông Châu Đình Sương khởi kiện yêu cầu bà Hạnh phải trả 100.000.000 đồng và lãi suất quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, không yêu cầu bà Hạnh phải ký các giấy tờ có liên quan tại UBND phường An Hải Đông.

- Việc bản án sơ thẩm tuyên buộc bà Hạnh phải ký các giấy tờ có liên quan là không có khả năng thi hành án. Hơn nữa, không xác định được bà Hạnh phải ký các loại giấy tờ cụ thể nào.

- Hiện nay UBND phường An Hải Đông đã gửi tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Phòng giao dịch quận Sơn Trà số tiền 100.000.000 đ mà bà Hạnh đã giao cho UBND phường tạm giữ. Thế nhưng Bản án lại không tuyên cụ thể việc buộc UBND phường An Hải Đông giao số tiền 100.000.000 đ cho ông Châu Vĩnh Long, ông Châu Đình Sương trong khi Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.     

- Tại phần nhận định của Bản án sơ thẩm xác định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi 6.000.000 đối với số tiền 100.000.000 đ nhưng phần quyết định của Bản án lại không tuyên buộc bị đơn phải trả 6.000.000 đ cho nguyên đơn.

* Án phí DSST: Do Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng pháp luật nên việc Bản án sơ thẩm buộc bà Hạnh phải chịu 5.300.000 đồng án phí là cũng không đúng pháp luật.

 

Từ những vi phạm nghiêm trọng nêu trên, VKSND quận Sơn Trà đã ban hành kháng nghị, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩmvụ kiện theo hướng hủy toàn bộ Bản án nêu trên, giao hồ sơ về TAND quận Sơn Trà giải quyết lại theo thủ tục chung.

Tác giả bài viết: Trần Thị Xuân Thanh – VKSND quận Sơn Trà

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

VKS Quảng Nam
thư viện pháp luật
Phần mềm quản lý án hình sự
báo bảo vệ pháp luật
Truyền hình kiểm sát
Hộp thư điện tử
Quản lý án dân sự
Tạp chí kiểm sát
Đại học kiểm sát
Viện kiểm sát tối cao

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 35

Thành viên online : 1

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 4980

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138149

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9228197

Bình yên trên vùng đất mới