15:40 ICT Thứ năm, 21/09/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết

Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm nhằm hạn chế Viện kiểm sát truy tố, Tòa án hủy án để điều tra, xét xử lại

Chủ nhật - 01/01/2017 13:09
Những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Đà Nẵng đã có nhiều giải pháp để hạn chế việc Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa án tuyên hủy, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại. Tuy tỷ lệ này có giảm nhưng chưa bền vững và chưa đồng đều ở các đơn vị; một số nguyên nhân dẫn đến việc việc hủy án, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại đã được thông báo, rút kinh nghiệm, song vi phạm thiếu sót còn lặp lại, chưa được khắc phục; một số đơn vị tỷ lệ án hủy, án trả hồ sơ còn cao so với chỉ tiêu; một số vụ án có thiếu sót, vi phạm trong quá trình khởi tố, điều tra mặc dù đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó vẫn phải đình chỉ; đa số các quyết định hủy án, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại là có căn cứ và cần thiết, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại các vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, có vụ gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

 Trong sáng kiến này, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề về thực trạng việc hủy án, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại và một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc VKS truy tố, Tòa án hủy, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại.Chính vì thế tôi chọn đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm nhằm hạn chế Viện kiểm sát truy tố, Tòa án hủy án để điều tra, xét xử lại của VKSND thành phố Đà Nẵng”làm sáng kiến để nâng cao hiệu quả công tác này. Qua phân tích tích thực trạng, chúng tôi rút ra một số dạng vi phạm trong việc VKS truy tố, Tòa cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại như sau:

Thứ nhất, còn vụ án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự

Vi phạm, thiếu sót trong việc không mời luật sư, người bào chữa trong các trường hợp pháp luật quy định; định giá tài sản chiếm đoạt không đúng quy định pháp luật; xử lý vật chứng không đúng quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) vi phạm trong việc giám hộ; không trưng cầu giám định đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLTTHS. Đơn cử: Ngày 25.7.2016, tại phiên toà hình sự phúc thẩm, Hội đồng xét xử Tòa án đã tuyên huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án Lê Ngọc Khoa cùng đồng bọn phạm tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS vì vi phạm thủ tục tố tụng. Nội dung vụ án: Ngô Xuân Khánh, Phạm Tấn Lực, Trần Hoàng Dinh, Nguyễn Hữu Trịnh, Nguyễn Thành Quang, Nguyễn Hữu Tài, Lê Ngọc Khoa, Võ Công Thành, Hà Nam Thắng, Trần Minh Tiến và Nguyễn Hoàng Lộc có mối quan hệ bạn bè quen biết với nhau, chơi chung một nhóm và rủ nhau lên Công viên 29/3, thuộc phường Thạc Gián , quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng đánh các cặp nam nữ đang tâm sự để cướp tài sản. Cụ thể:

- Vào khoảng 20 giờ ngày 05.06.2015, Khánh, Lực, Dinh, Trịnh, Quang, Tài, Khoa, Thành và Lộc dùng tuýp sắt đánh anh Nguyễn Đình Mạnh (sinh năm 1995, HKTT: xã Định Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) và chị Lưu Phương Thảo (sinh năm 1995; HKTT: tổ 198, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, Tp Đà Nẵng), cướp 01 điện thoại di động hiệu Samsung S5233 màu trắng, 01 chiếc balô hiệu Bom màu vàng nâu, 01 ví da màu xanh ngọc và số tiền 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Khánh, Lực, Dinh, Trịnh, Quang, Tài, Khoa, Thành và Lộc chiếm đoạt có giá trị là 440.000đ.

- Vào khoảng 20 giờ ngày 07.06.2015, Khánh, Lực, Dinh, Trịnh, Quang, Tài, Tiến, Thắng và Lộc cướp của anh Dương Anh Dũng (sinh năm 1992; HKTT: xã Điện Phong, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) và chị Nguyễn Thị Thanh Lộc (sinh năm 1991, HKTT: xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) 01 điện thoại di động Iphone 5 màu đen, 01 điện thoại di động Oppo màu trắng đen. Tổng giá trị tài sản Khánh, Lực, Dinh, Trịnh, Quang, Tài, Lộc, Tiến và Thắng chiếm đoạt có giá trị là 5.600.000đ.

Bản án HSST số 41/2016/HSST ngày 15.04.2016 của Toà án nhân dân quận T tuyên bố các bị cáo Ngô Xuân Khánh, Phạm Tấn Lực, Trần Hoàng Dinh, Nguyễn Hữu Trịnh, Nguyễn Thành Quang, Nguyễn Hữu Tài, Lê Ngọc Khoa, Võ Công Thành, Hà Nam Thắng, Trần Minh Tiến phạm tội “Cướp tài sản”.Vụ án đã bị các bị cáo Lê Ngọc Khoa, Nguyễn Hữu Tài, Võ Công Thành kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKSNDTp Đà Nẵng thấy rằng trong vụ án này các bị cáo đều là người chưa thành niên phạm tội. Trong đó, có các bị cáo Võ Công Thành, Lê Ngọc Khoa và Nguyễn Thành Quang (sinh năm 2000) trong quá trình điều tra, hỏi cung đều yêu cầu cơ quan điều tra chỉ định luật sư bào chữa và cơ quan điều tra đã cấp chứng nhận luật sư bào chữa cho các bị can. Tuy nhiên, từ ngày cấp giấy chứng nhận luật sư cho đến khi kết thúc điều tra vụ án (2 tháng) CQĐT không tiến hành hỏi cung các bị can để cho các luật sư tham gia vào bảo vệ cho các bị can cũng như các bị can có đồng ý với luật sư đã được chỉ định bảo vệ cho mình hay không. Hồ sơ không thể hiện cơ quan điều tra có thông báo cho luật sư biết kết luận hành vi của các bị can phạm vào tội gì. Như vậy là trái với quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS và Điều 58 BLTTHS, Điều 9 Chương II Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12.07.2011 và Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02.10.2004 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao là không  đảm bảo quyền lợi của các bị can và quyền, nghĩa vụ của luật sư khi tham gia bào chữa cho các bị can là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩmKSV đã đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 250 BLTTHS tuyên hủy một phần bản án sơ thẩm số 41/2016/HSST ngày 15.04.2016 của Toà án nhân dân quận Thanh Khê để điều tra lại từ đầu đối với các bị cáo Lê Ngọc Khoa, Nguyễn Hữu Tài, Võ Công Thành, Nguyễn Thành Quang và không xét đơn kháng cáo của các bị cáo.Hội đồng xét xử phiên toà phúc thẩm đã tuyên hủy 1 phần bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với vụ án trên.

Thứ hai, Một số vụ án có căn cứ đế cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có người đồng phạm khác,

Một số vụ án thể hiện các dạng như sau: Yêu cầu thay đổi tội danh vì cho rằng bị can phạm một tội khác với tội danh VKS đã truy tố; yêu cầu khởi tố bổ sung vì cho rằng còn bỏ lọt người phạm tội và hành vi phạm tội; còn vụ án Toà án trả hồ sơ để yêu cầu truy tố người đồng phạm khác vì cho rằng còn bỏ lọt người phạm tội. Đơn cử:

Vụ thứ nhất: Ngày 25.5.2016, tại phiên toà hình sự phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án Nguyễn Thị Yến phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS vì bỏ lọt tội phạm.Nội dung vụ án: Nguyễn Thị Yến không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng xin việc làm và thẩm quyền bố trí công việc cho người khác nhưng Yến tự giới thiệu với mọi người là kế toán trưởng tại Sở xây dựng thành phố Đà Nẵng. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2014, Yến lợi dụng sự tin tưởng của người khác, đã nhiều lần nhận tiền xin việc làm của nhiều người rồi chiếm đoạt tiền sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Sau khi nhận tiền, Yến không có hành động cụ thể nào để xin việc mà hứa hẹn nhiều lần nhằm trốn tránh, không chịu hoàn trả lại tiền. Tổng số tiền Nguyễn Thị Yến chiếm đoạt của các bị hại là 444.500.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2016/HSST ngày 05.03.2016 của TAND quận T áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Thị Yến 09 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 14.03.2016, bị cáo Nguyễn Thị Yến có đơn kháng cáo xin được xét xử theo trình tự phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt.Những người bị hại là bà Phan Thị Thu, bà Trần Thị Như Ý, bà Trần Thị Thu Thúy, bà Lê Nguyễn Minh Nghĩa có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xem xét vai trò của Nguyễn Thế Hùng (chung sống như vợ chồng với bị cáo Yến).

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 25.5.2016, Nguyễn Thị Yến và Nguyễn Thế Hùng cùng khai nhận việc cùng nhau lừa đảo xin việc nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại, trong hồ sơ vụ án cũng có tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi trên của Nguyễn Thế Hùng. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã phát biểu quan điểmcho rằng: hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và người bị hại thấy rằng việc không xét đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thế Hùng trong vụ án này là thiếu sót; các cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố để điều tra, xử lý Nguyễn Thế Hùng theo pháp luật là bỏ lọt tội phạm. Hội đồng xét xử phiên toà phúc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với vụ án trên.

Vụ thứ hai: Ngày 17.5.2016, Tòa án cấp phúc thẩm vụ án hình sự Đỗ Văn Ngọc phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo Điều 123 BLHS. Nội dung vụ án: Vào khoảng 15h00 ngày 28.8.2015, Đỗ Văn Ngọc rủ Phạm Ngọc Ly (sinh năm 1992), Nguyễn Thế Vinh và Phạm Văn Lâm cùng trú tại thôn Vân Dương 1, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng đến nhậu tại quán Trinh thuộc tổ 05, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu do anh Võ Ngọc Đức và chị Hoàng Thị Mỹ Trinh làm chủ. Đến khoảng 18h30 cùng ngày thì Ly, Lâm và Vinh về trước, còn Ngọc từng có quan hệ tình cảm với chị Trần Thị Muốn (sinh năm 1995, trú tại tổ 94, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu) là nhân viên của quán Trinh, nên Ngọc nán lại để nói chuyện hàn gắn với chị Muốn. Chị Muốn không muốn nói chuyện do sợ bị Ngọc đánh, nên vào phòng ngủ ở gần bếp, đóng cửa lại để tránh. Ngọc đi theo và lấy một con dao Thái Lan ở bếp cất vào trong túi quần của mình, rồi yêu cầu Muốn mở cửa, ra ngoài nói chuyện nhưng chị Muốn không đồng ý, thì Ngọc đạp cửa phòng ngủ xông vào cầm tay của chị Muốn kéo ra khu vực quán. Nghe chị Muốn cầu cứu thì anh Đức và các nhân viên trong quán đến can ngăn, Ngọc rút dao trong túi quần ra đe dọa vừa kéo chị Muốn ra ngoài đường. Khi Ngọc kéo chị Muốn ra khỏi quán thì Ngọc điện thoại cho Phạm Văn Lâm nói “Bị đánh dưới quán Trinh, nhờ đến chở về”. Sau đó, Phạm Văn Lâm nhặt một cây sắt dài khoảng 60cm bọc trong áo khoác của Lâm, nhét trong yếm xe mô tô hiệu Exciter BKS 43K7-065.17 của Phạm Ngọc Ly và nói với Ly “Ngọc bị đánh dưới quán Trinh”, rồi điều khiển xe chở Ly đến quán Trinh. Khi đến nơi, Lâm và Ly thấy anh Đức cầm đá, còn Ngọc cầm dao và có đông người, nên Ly điều khiển xe chở Lâm, Ngọc bồng Muốn lên xe và kẹp Muốn ở giữa, đồng thời dùng dao dí vài người chị Muốn, để chị Muốn không kêu cứu. Ly điều khiển xe mô tô chở Lâm, chị Muốn và Ngọc chạy đến khu vực An Ngãi Đông, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang thì Ngọc nói dừng lại để Ngọc nói chuyện với Muốn (trên đường đi thì Lâm làm rơi đoạn sắt trên, hiện không thu hồi được). Khi Ly dừng xe lại thì Ngọc và chị Muốn xuống xe, Ngọc dùng tay tát vào mặt chị Muốn và chân đá vào người chị Muốn, rồi nhặt một mảnh vỡ bê tông của chậu hoa đánh vào người chị Muốn, chị Muốn chạy đến lấy con dao trên người Ngọc định tự tử thì Ly đến can ngăn, lấy dao và tát vào mặt chị Muốn. Mọi người đi đường thấy vậy đến can ngăn thì Lâm điều khiển xe mô tô chở Ly, Muốn và Ngọc đến khu vực cầu Đồng Cấu thuộc thôn Vân Dương 2, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang rồi dừng lại, chị Muốn xuống xe rồi nhảy xuống ruộng, Ngọc nhảy xuống kéo chị Muốn lên. Lúc này, Ly và Lâm về trước, lực lượng Công an xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang đi tuần tra phát hiện sự việc và mời Ngọc và chị Muốn về làm việc.

Bản án sơ thẩmsố 08/2016/HSPT ngày 28.01.2016 của TAND quận L tuyên bị cáo Đỗ Văn Ngọc phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” áp dụng khoản 1 Điều 123; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt Đỗ Văn Ngọc 15 tháng tù và nhận định đối với Phạm Ngọc Ly và Phạm Văn Lâm như sau: Phạm Ngọc Ly có hành vi chở Trần Thị Muốn lên khu vực An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, nhưng Ly không biết Ngọc bắt chị Muốn lên xe và ngoài ra Ly còn có hành vi tát vào mặt chị Muốn nhưng với mục đích để can ngăn không cho hai người đánh nhau và chưa gây ra hậu quả, hành vi của Ly không cấu thành tội phạm nên CQĐT không xử lý đồi với Ly là có cơ sở; Đối với Phạm Văn Lâm có hành vi chuẩn bị cây sắt dài 60 cm đến quán Trinh khi nghe Ngọc nói “bị đánh ở quán Trinh”, với mục đích để giải vây cho Ngọc nhưng Lâm không sử dụng đoạn cây sắt này và không biết việc Ngọc bắt chị Muốn lên xe, hành vi của Lâm không cấu thành tội phạm nên CQĐT không xử lý đối với Lâm là có căn cứ, nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát viên thấy rằng hành vi của Phạm Ngọc Ly và Phạm Văn Lâm là đồng phạm nhưng cấp sơ thẩm cho rằng hành vi đó không cấu thành tội phạm (bắt giữ người trái pháp luật) là bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, ngày 24/ 02 /2016,Viện trưởng Viện KSND Tp Đà Nẵng ban hành kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-KNPT-P7 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân Tp Đà Nẵng tuyên huỷ án sơ thẩm để điều tra lại. Tại phiên toà phúc thẩm ngày 17 / 05 /2016, sau khi căn cứ diễn biến phiên toà và các tình tiết trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện KSND Tp Đà Nẵng, tuyên huỷ án sơ thẩm để điều tra lại vai trò đồng phạm của Phạm Ngọc Ly và Phạm Văn Lâm trong vụ án.

Vụ án thứ ba:Vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và người phạm tội: Tòa cấp cao trả toàn bộ hồ sơ cho tòa sơ thẩm xét xử lại từ đầu. Giữa tháng 12/2015, TAND Cấp cao tại Đà Nẵng đã xét xử phúc thẩm các bị cáo: Trương Phan Thị Thảo (1977) và Đinh Văn Cường (1973, cùng trú P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu, Đà Nẵng) về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo kháng nghị của Viện trưởng VKSND TP Đà Nẵng đối với bản án hình sự sơ thẩm của TAND TP Đà Nẵng.

HĐXX TAND Cấp cao tại Đà Nẵng nhận định: dù 2 bị cáo đều cho rằng quan hệ giữa bị cáo Thảo và bà H. là quan hệ vay tiền, do bị ép buộc nên mới viết giấy bán nhà, đất và xe để “hợp thức hóa”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc vay tiền, trả tiền, không thể hiện việc vợ chồng bị cáo Thảo bị ép buộc viết giấy bán tài sản,

Từ lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có căn cứ xác định: Từ tháng 7 đến tháng 9-2011, bị cáo Thảo đã nhiều lần nhận tiền của bà H. với tổng số tiền 6 tỷ đồng về việc bán các tài sản 3 lô đất tại TP Hội An (Quảng Nam; 3 tỷ đồng), nhà và đất tại P. An Hải Tây (Q. Sơn Trà, Đà Nẵng- 500 triệu đồng), nhà và đất tại đường Trường Chinh (Đà Nẵng- 600 triệu đồng), nhà đất tại đường Phạm Như Xương (Đà Nẵng; giá 1,5 tỷ đồng) và 1 xe ô-tô giá 500 triệu đồng. Thế nhưng, Thảo đã không thực hiện đúng cam kết mà đem những tài sản này thế chấp cho ngân hàng hoặc đem bán cho người khác nhưng lại không trả tiền cho bà H. Điều này thể hiện rõ ý thức chiếm đoạt tài sản đối với người bị hại.

Qua xem xét các chứng cứ tại phiên tòa, lời khai của các bên liên quan, ý kiến của đại diện VKS, luật sư bào chữa, HĐXX phúc thẩm nhận định: Cấp sơ thẩm kết tội bị cáo Thảo “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (liên quan đến việc bán 3 lô đất tại TP Hội An, nhà và đất ở Q. Sơn Trà và xe ô-tô) là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với nhà đất tại đường Phạm Như Xương, vợ chồng Thảo-Cường là chủ sở hữu hợp pháp, đã thế chấp ngân hàng, nhưng đến ngày 6/9/2011, vợ chồng Thảo-Cường tiếp tục viết giấy bán nhà và đất này cho bà H. với giá 1,5 tỷ đồng. Vì vậy cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Thảo về hành vi “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” đối với nhà đất tại đường Phạm Như Xương là không chính xác.

Đối với bị cáo Cường, dù biết rõ tài sản nhà và đất tại đường Phạm Như Xương đã thế chấp ở ngân hàng nhưng vẫn cố tình khi ký vào giấy tờ bán nhà đất cho bà H. là thực hiện hành vi che giấu thông tin về tài sản việc thế chấp nhà và đất ở ngân hàng để bán nhà nhưng thực tế không có tài sản để giao cho người mua là thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với vai trò đồng phạm giúp sức để Thảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy việc tòa sơ thẩm tuyên bố bị cáo Cường không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với việc bán nhà đất tại đường Phạm Như Xương là không đúng. Đối với nhà đất tại đường Trường Chinh, mặc dù vợ chồng Cường đã ký bán cho vợ chồng bà H. nhưng sau đó vẫn bán cho người khác (đã ra công chứng) nhưng không trả lại tiền cho bà H. cho thấy hành vi của Cường là giúp sức cho Thảo chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi này của Cường cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng tòa cấp sơ thẩm chưa đánh giá hết tính chất đặc biệt của vụ án, chỉ tuyên bị cáo Thảo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị cáo Cường không phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Do vậy, HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND TP Đà Nẵng, kháng cáo của người bị hại hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.   

 

Những sai sót nêu trên có nhiều nguyên nhân và trách nhiệm thuộc về  nhiều cơ quan tiến hành tố tụng, song trong phạm vi sáng kiến này chúng tôi chỉ đề cập đến trách nhiệm của VKS và Kiểm sát viên.

* Về nguyên nhân chủ quan 

- Năng lực, trình độ của một số Kiểm sát viên còn hạn chế khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiềm sát điều tra vụ án do đó, trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án còn lúng túng, chưa bám sát được tiến độ điều tra, không kịp thời Phát hiện những chứng cứ còn thiếu hoặc phát hiện những vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra kịp thời.

- Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vụ án chưa làm hết trách nhiệm; một số trường hợp như: Trưng cầu giám định trong trường hợp theo quy định pháp luật bắt buộc phải trưng cầu giám định nhưng CQĐT không thực hiện mà KSV không phát hiện kịp thời để ban hành yêu cầu điều tra hoặc việc xác định những vấn đề quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo  trong một số loại án... đây là lỗi chủ quan của KSV.

- Một số đơn vị phân công KSV kiểm sát điều tra vụ án chưa phù hợp với trình độ, năng lực và kinh nghiệm; Lãnh đạo Viện trực tiếp chỉ đạo giải quyết án chưa sâu sát hoạt động của KSV kiểm sát điều tra, thiếu kiểm tra tiến độ nên hiệu quả chỉ đạo còn hạn chế và không kịp thời, do vậy, vi phạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra chậm được khắc phục. Việc triển khai thực hiện chuyên đề nghiệp vụ còn mang tính hình thức; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa nghiêm, thiếu tác dụng giáo dục.

* Về nguyên nhân khách quan

- Tính chất thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, có nhiều bị can tham gia và hành vi phạm tội xảy ra, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm; nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, nhiều thủ đoạn phạm tội mới được thực hiện, nhiều vụ án liên quan đến các hoạt động  chuyên ngành rất phức tạp hoặc có liên quan đến nước ngoài... trong khi hoạt động giám định ở một số lĩnh vực chuyên ngành chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

 - Quan điểm đánh giá về chứng cứ, tội danh, đường lối xử lý còn thiếu thống nhất giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là đối với những vụ án lớn phức tạp.

- Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự có nhiều vấn đề còn bất cập so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật của cơ quan có thẩm quyền chưa được thực hiện thường xuyên và đồng bộ, dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, ...

* Về trách nhiệm trong việc Tòa án tuyên hủy án, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại

- Trách nhiệm trước hết là, KSV được phân công thụ lý vụ án chưa chủ động, tích cực kiểm sát điều tra ngay từ đầu; chưa nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra và việc lập hồ sơ vụ án trong suốt quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra toàn diện, kịp thời, sát, đúng với thực tế vụ án; có trường hợp tuy đã có yêu cầu điều tra nhưng không theo dõi, giám sát chặt chẽ để bảo đảm việc thực hiện yêu cầu điều tra nghiêm túc, có chất lượng. Đa số các trường hợp án hủy, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại đều do KSV sau khi vụ án kết thúc điều tra mới nghiên cứu hồ sơ và phát hiện ra các vấn đề cần điều tra bố sung. Đối với một số vụ án lớn phức tạp, có nhiều bị can; những vụ án có quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ, tội danh hoặc tính chất thủ đoạn phạm tội... nhưng KSV đã không báo cáo đề xuất xin ý kiến chỉ đạo kịp thời để khắc phục khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết án

- Thứ hai là trách nhiệm của Lãnh đạo Viện trong chỉ đạo kiểm sát điều tra đối với các vụ án Tòa tuyên hủy, trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại:  một số VKSND quận, huyện đã không kiểm điểm nghiêm túc, tìm ra nguyên nhân chủ quan và khách quan của việcTòa án tuyên hủy,trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại, nhằm có biện pháp khắc phục.

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và cải cách tư pháp, việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự  (THQCT, KSĐT, KSXX) đã và đang là yêu cầu cấp thiết trong tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân,  chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hạn chế việc VKS truy tố, Tòa  án tuyên hủy để điều tra, xét xử lại của VKSND hai cấp trong thời gian tới:

 Một là, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực và trình độ của KSV; lựa chọn phân công KSV kiểm sát điều tra phù hợp; lưu ý khi phân công các KSV chưa có kinh nghiệm (như mới bổ nhiệm hoặc luân chuyển từ khâu công tác khác sang... ), Lãnh đạo Viện chỉ đạo giải quyết án cần quan tâm sâu sát hơn để hạn chế vi phạm, thiếu sót, đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm... cần phân công KSV có năng lực và kinh nghiệm trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra ngay từ khi CQĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Hai là, KSV được phân công phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu để kiểm sát chặt chẽ việc phê chuẩn và chủ động đề ra yêu cầu điều tra. Phải bám sát tiến độ điều tra, đề ra yêu cầu điều tra nhằm khắc phục kịp thời những thiếu sót về chứng cứ hoặc vi phạm tố tụng. Quá trình điều tra phải phối hợp với CQĐT để tiến hành sơ kết việc điều tra khi cần thiết. Trước khi kết thúc điều tra vụ án, KSV phải phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên rà soát lại toàn bộ chứng cứ buộc tội chứng cứ gỡ tội và các thủ tục tố tụng đối với vụ án, bị can; khi cần thiết có thể trực tiếp cùng với Điều tra viên hỏi bản cung tổng hợp để đánh giá đầy đủ tính chất; mức độ phạm tội của từng bị can trong vụ án. Đồng thời, khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong việc thu thập chứng cứ, tài liệu để kết luận hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án. Sau khi kết thúc điều tra, KSV tiếp tục nghiên cứu kỹ hồ sơ, phát hiện kịp thời những mâu thuẫn trong vụ án; thực hiện việc phúc cung tổng hợp đối với từng bị can, nhất là đối với những bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, chối tội, phản cung hoặc có mâu thuẫn giữa các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để từ đó đề xuất đường lối xử lý vụ án, bị can có căn cứ và thận trọng.

Ba là,  Đối với từng vụ án bị Tòa án hủy, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ có trách nhiệm của KSV cần nghiêm túc kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá chân (KSV, Lãnh đạo Viện chỉ đạo); định kỳ hàng tháng, trên cơ sở báo cáo của các Phòng 1,3 và 7, VKSND quận, huyện (kèm theo quyết định trả hồ sơ, biên bản họp, bản kiểm điểm), VKSND thành phố  đã giao cho Phòng 1 (phụ trách chuyên đề án đình chỉ), Phòng 3 (phụ trách chuyên đề trả hồ sơ điều tra bổ sung có trách nhiệm ) tổng hợp, phân tích nguyên nhân, trách nhiệm đối với từng vụ việc cụ thể, ra thông báo bằng văn bản nhằm kịp thời rút kinh nghiệm chung trong toàn đơn vị và coi đây là một căn cứ bình xét thi đua cuối năm. VKS hai cấp chỉ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ pháp luật và cần thiết đối với việc giải quyết vụ án. Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải yêu cầu toàn bộ những vấn đề cần phải điều tra bổ sung, cần xem xét tính khả thi của yêu cầu điều tra bổ sung và kiểm sát chặt chẽ kết quả thực hiện của cơ quan điều tra, khắc phục việc trả đi trả lại nhiều lần hoặc việc toà án lại tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Bốn là, KSV khi kiểm sát một số hoạt động điều tra cần lưu ý:

+ Vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng được rút ra ở trên, như: không mời luật sư, người bào chữa trong các trường hợp pháp luật bắt buộc theo quy định; không trưng cầu giám định trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định; định giá tài sản chiếm đoạt không đúng quy định, xử lý vật chứng không đúng quy định; ... KSV cần kiểm sát chặt chẽ lập hồ sơ của Điều tra viên nhằm kịp thời phát hiện vi phạm, thiếu sót để khắc phục.

+ Trong thực tiễn, một số Điều tra viên không trực tiếp đi xác minh lý lịch bị can tại nơi cư trú mà dựa trên lời khai của bị can để ghi lý lịch sau đó xin xác nhận (hoặc xác nhận trước ghi sau), dẫn đến sai sót thông tin về nhân thân hoặc bỏ sót tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.Vì vậy khi kiểm sát điều tra đối với vụ án mà bị can cư trú hoặc phạm tội tại nhiều địa phương khác nhau thì KSV phải kiểm tra thận trọng, tỉ mỉ để hạn chế và loại trừ sai sót.

+ Hiện nay, việc giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự tốn kém về thời gian và tiền bạc, như giám định tâm thần đối với bị can... dẫn đến trường hợp mặc dù quá trình điều tra qua tiếp xúc với bị can hoặc người nhà bị can, cơ quan điều tra ngại khó khăn, tốn kém nên không trưng cầu giám định; Điều tra viên không thông báo, KSV chỉ nghiên cứu hồ sơ, không tiếp xúc với bị can sẽ không phát hiện được. Để hạn chế tình trạng này, trong yêu cầu điều tra cần làm rõ có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của bị can không (có biểu hiện không bình thường về thần kinh ...).

+ Đối với vụ án có đông người tham gia hoặc liên quan, KSV cần thận trọng đánh giá chứng cứ để cùng điều tra viên xác định diện khởi tố; cần thận trọng khi phê chuẩn khởi tố bị can đối với các tội phạm có cấu thành tội phạm có dấu hiệu ly lai như: nhận hối lộ với lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; cưỡng đoạt tài sản với cướp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản....

+ Trong một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; việc xác định hiện trường gặp khó khăn do hiện trường bị xáo trộn hoặc thay đổi; không có nhân chứng hoặc không tìm được nhân chứng; không thu giữ được vật chứng...thì KSV cần đặc biệt thận trọng trong quá trình kiểm sát điều tra.

+Trong quá trình giải quyết vụ án có khó khăn, vướng mắc về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, phương hướng điều tra tiếp, đường lối xử lý hoặc sự nhận thức khác nhau về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì KSV cần kịp thời báo cáo xin ý kiến của lãnh đạo Liên ngành cùng cấp để thống nhất giải quyết; trường hợp không thống nhất được thì báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Liên ngành cấp trên.

Thực tiễn công tác kiểm sát đã cho thấy quan hệ phối hợp giữa các đơn vị trong mỗi cấp, giữa VKS hai cấp và giữa VKS với các cơ quan, tổ chức, đơn vị không chỉ là giải pháp để nâng cao chất lượng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra,  mà đã được coi là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND. Trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, việc xây dựng được mối quan hệ phối hợp tốt giữa các đơn vị ở mỗi cấp kiểm sát, giữa các cấp kiểm sát cũng như giữa VKS với các cơ quan, đơn vị ngoài ngành sẽ khắc phục tình trạng "việc ai người ấy làm", hoặc tình trạng "quyền anh, quyền tôi". Xây dựng được mối quan hệ phối hợp tốt sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Trong quan hệ phối hợp giữa VKSND với các cơ quan, tổ chức khác cần phải đảm bảo nguyên tắc việc phối hợp được thực hiện trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trong quan hệ này cần chú ý khắc phục hai thái cực, hoặc là quá nhấn mạnh quan hệ phối hợp mà hạn chế tính độc lập trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi bên. Quan hệ phối hợp giữa VKS với các cơ quan, tổ chức trước hết thể hiện qua việc thống nhất phương hướng đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa VKS với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan Đảng, các cơ quan khác trong việc phòng, chống tội phạm. VKS hai cấp còn tham mưu cho các cấp uỷ Đảng về chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Quan hệ phối hợp này còn thể hiện trong các hoạt động nghiệp vụ cụ thể, thể hiện qua việc giải quyết những vụ án phức tạp, án trọng điểm. Những trường hợp có vướng mắc giữa các bên thì VKS hai cấp phải chủ động họp liên ngành để trao đổi, hướng dẫn giải quyết hoặc chủ động báo cáo với cấp trên của các bên để phối hợp giải quyết án hình sự.

Tác giả bài viết: Trích từ sáng kiến năm 2016 của tác giả Hữu Linh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Hộp thư điện tử
Đại học kiểm sát
Truyền hình kiểm sát
Quản lý án dân sự
Viện kiểm sát tối cao
VKS Quảng Nam
Phần mềm quản lý án hình sự
Tạp chí kiểm sát
thư viện pháp luật
báo bảo vệ pháp luật

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 82

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 80


Hôm nayHôm nay : 4148

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 130057

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9220105

Bình yên trên vùng đất mới