23:58 ICT Thứ ba, 20/08/2019
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm qua một vụ án kinh doanh thương mại bị hủy

Thứ hai - 31/12/2018 13:47
Vụ án bị hủy lần thứ 03 do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (không đưa người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ...) và nội dung vụ án (xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu không chính xác và đầy đủ) làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Ngân hàng S đã ký kết các hợp đồng tín dụng với Công ty T. Theo các hợp đồng, Ngân hàng cho Công ty vay số tiền 1.350.000 đồng.Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là toàn bộ diện tích nhà đất tại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND quận L cấp 10/9/2010 đứng tên ông C theo Hợp đồng thế chấp ngày 26/10/2010. Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho Công ty với tổng số tiền là 1.250.000.000 đồng . Lãi suất cho vay:1,75%/ tháng, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng trả lãi cuối kỳ (+) biên độ 0,60%. Thời hạn trả nợ 06 tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng. Vì vậy, ngày 04/3/2013, Ngân hàng S đã nộp đơn khởi kiện đến TAND yêu cầu Toà án buộc Công ty phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền 1.754.015.417 đồng (Trong đó: nợ gốc 1.250.000.000 đồng; nợ lãi: 16.661.667 đồng và nợ lãi quá hạn: 487.353.750 đồng); tiếp tục trả lãi cho đến khi Công ty thanh toán hết nghĩa vụ cho Ngân hàng. Trong trường hợp Công ty T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.

Ngày 12/7/2013, cấp sơ thẩm đã ra Quyết định Công nhận thỏa thuận của các đương sự với nội dung: Công ty T đồng ý trả cho Ngân hàng S số tiền nợ 1.754.015.417 đồng vào ngày 15/8/2013. Nếu không trả được nợ đúng hạn thì đề nghị Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo Điều 355 Bộ luật Dân sự.

Tuy nhiên trong giai đoạn thi hành án, vào ngày 03/12/2014, vợ chồng ông Hồ và bà Phạm đã có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự ngày 12/7/2013 yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền số 2024 ngày 26/4/2010, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 4537 ngày 15/7/2010 do Văn phòng Công chứng T chứng thực và kiến nghị hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền ở hữu nhà ở tại quận L mang tên ông C với lí do: vợ chồng ông bà  không ký hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn để thực hiện các quyền đối với nhà đất tại quận L.

Tại Quyết định giám đốc thẩm ngày 12/01/2015, cấp phúc thẩm đã quyết định hủy Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự ngày 12/7/2013 và giao hồ sơ vụ án lại cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi  cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại vụ án, vào ngày 09/4/2015, bà Phạm nộp đơn khởi kiện độc lập yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2024 ngày 26/4/2010, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở có số công chứng 4537 ngày 15/7/2010 do Văn phòng Công chứng T công chứng và kiến nghị hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở số BC 471846 đối với thửa đất tại do UBND quận L cấp đứng tên ông C.

Ngày 15/01/2016, cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng số tiền là 2.793.791.667 đồng (Trong đó: nợ gốc: 1.250.000.000 đồng; nợ lãi tạm tính đến ngày 15/01/2016 là 1.543.791.667 đồng) và lãi suất tiếp tục từ ngày 16/01/2016 cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ theo lãi suất đã được thoả thuận tại các hợp đồng. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm, tuyên huỷ Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2024 ngày 26/4/2010 giữa ông Hồ, bà Phạm với ông Nguyễn, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở có số công chứng 4537 ngày 15/7/2010 giữa ông Nguyễn và ông C do Văn phòng Công chứng T công chứng.

 Tuy nhiên, Ngân hàng, ông C và Văn phòng Công chứng T đã có đơn kháng cáo đối với bản án ngày 15/01/2016 của cấp sơ thẩm đối với phần quyết định chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm hủy Hợp đồng ủy quyền số công chứng 2024 ngày 26/4/2010, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở có số công chứng 4537 ngày 15/7/2010 do Văn phòng Công chứng T công chứng.

Tại bản án ngày 23/6/2016, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên huỷ bản án  ngày 15/01/2016 của cấp sơ thẩm và giao cho cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung, vì chưa có kết quả giải quyết thông tin tội phạm cũng như có vi phạm về nội dung.

Ngày 18/7/2016, cấp sơ thẩm đã thụ lý lại vụ án giải quyết theo thủ tục chung. Bản án sơ thẩm số ngày 12/7/2018 của cấp sơ thẩm đã quyết định:

1.Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, tuyên xử:

1/ Hợp đồng ủy quyền công chứng số 2024 ngày 26/4/2010 giữa bên được ủy quyền là bà Phạm và ông Hồ với bên nhận ủy quyền là ông Nguyễn, và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 4537, ngày 15/7/2010 giữa ông Nguyễn với ông C đối với ngôi nhà và đất  theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số BA613741 do UBND quận L cấp cho bà Phạm và ông Hồ được Văn phòng Công chứng T công chứng là vô hiệu.

2/ Buộc ông Nguyễn và ông Hồ  phải liên đới trả lại tiền gốc và bồi thường thiệt hại cho ông C với tổng số tiền 7.295.442.000 đồng, trong đó tiền gốc bán nhà và đất là 1.876.444.130 đồng, tiền bồi thường: 5.418.998.000 đồng. Chia phần ông Nguyễn và ông Hồ  mỗi người phải chịu: 3.647.721.000 đồng.

3/ Bà Phạm và ông Hồ được quyền sử dụng 03 lô đất tái định cư, và được quyền liên hệ với Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố nhận bồi thường tài sản trên đất và quyền sử dụng đất: 1.876.444.130 đồng.

2. Đối với yêu cầu của nguyên đơn, tuyên xử:

1/ Buộc Công ty có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng: 2.793.791.667 đồng,  trong đó: gốc là 1.250.000.000 đồng, lãi 1.543.791.667 đồng, tạm tính đến ngày 15/1/2016.

2/ Hợp đồng bảo lãnh thế chấp bất động sản số 7831, ngày 26/10/2010 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở theo Giấy chứng nhận số BC471846 do UBND quận L ngày 10/9/2010 đứng tên ông C được Văn phòng Công chứng T công chứng là vô hiệu.

3/ Trong trường hợp Công ty không có khả năng thực hiện nghiã vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông C phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và chi phí định giá.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 24/7/2018, ông C đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

Bản án phúc thẩm ngày 31/10/2018 của cấp phúc thẩm đã quyết định: Hủy Bản ánngày 12/7/2018của  cấp sơ thẩm. Giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung.

Trong vụ án trên, cho thấy cấp sơ thẩm hủy đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và nội dung, cụ thể:

1. Về thủ tục tố tụng

Thứ nhất,  Không đưa Ủy ban nhân dân quận L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào giải quyết vụ án

Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 09/4/2015, quá trình xét xử sơ thẩm và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 02/10/2018, bà Phạm đã nhiều lần yêu cầu: “... kiến nghị cơ quan nhà nước hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C.”. Tuy nhiên bản án sơ thẩm không giải quyết yêu cầu này của bà Lự, do đó trên thực tế bản án sơ thẩm công nhận nhà, đất tại quận L là của ông Hồ và bà Phạm nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở do UBND quận L vẫn tồn tại và mang tên ông C. Điều này gây khó khăn cho việc thi hành bản án của các cơ quan có thẩm quyền.

Trong vụ án này, khi hợp đồng ủy quyền vô hiệu dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cũng vô hiệu cần phải hủy bỏ hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đã cấp cho ông C tại quận L. Để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồ và bà Phạm, tạo điều kiện cho vợ chồng ông Hồ và bà Phạm thực hiện các quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền nhận đền bù, nhận đất tái định cư. Tuy nhiên Tòa án sơ thẩm không đưa UBND quận L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan để giải quyết vụ án là trái với Điều 34, Bộ luật tố tụng Dân sự.

Ngoài ra, ngày 22/10/2013, UBND quận L đã ban hành quyết định về việc thu hồi 153,7 m2 đất do ông Hồ và bà Phạm đang sử dụng tại quận Liên. Sau đó ngày 11/12/2013, UBND quận L đã ban hành quyết định  về việc thu hồi 75,4 m2 đất của ông C tại quận L. Quyết định này thay thế quyết định ngày 22/10/2013. Như vậy, cần phải đưa UBND quận L tham gia tố tụng để làm rõ nội dung: UBND quận Liên Chiểu chỉ thu hồi 75,4 m2 đất của ông C, trong khi đó vào ngày 09/10/2013, UBND quận L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C là 113,6 m2 đất.

Thứ hai, Không đưa bà Mỹ  tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào giải quyết vụ án

Trong vụ án này, để xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Hợp đồng ủy quyền vô hiệu đầy đủ và chính xác, Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa bà Mỹ, sinh năm 1968 trú tại quận Clà người tham gia đóng giả bà Phạm, giúp ông Hồ lập Hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, để xác định rõ lỗi của ông Hồ và Văn phòng Công chứng T trong Hợp đồng ủy quyền vô hiệu.

Thứ ba, Thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ

Trong vụ án này, cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định căn cứ mà Ngân hàng đã áp dụng lãi suất, lãi suất quá hạn đối với khoản vay của Công ty là phù hợp với quy định của pháp luật hay không? Đây là một trong những nội dung mà cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm ngày 15/1/2016 và yêu cầu cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ để làm rõ trong quá trình giải quyết lại vụ án. Tuy nhiên cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung này. Cụ thể: bản án sơ thẩm ngày 12/7/2018 của cấp sơ thẩm vẫn tuyên buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng số tiền: 2.793.791.667 đồng (Trong đó tiền gốc: 1.250.000.000 đồng và tiền lãi: 1.543.791.667 đồng, lãi tạm tính đến ngày 15/01/2016), giống như trong quyết định của bản án sơ thẩm  ngày 15/1/2016 đã bị hủy trước đó.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập tài liệu, chứng cứ xác định Ngân hàng có làm đúng quy trình thẩm định tài sản khi ông C thế chấp tài sản hay chưa?

2.Về nội dung

Cấp sơ thẩm tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền công chứng số 2024, ngày 26/4/2010 giữa bên ủy quyền là ông Hồ và bà Phạm với bên nhận ủy quyền là ông Nguyễn (viết tắt là Hợp đồng ủy quyền), Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất công chứng số 4537, ngày 15/7/2010 giữa ông Nguyễn với ông C (viết tắt là Hợp đồng chuyển nhượng), và Hợp đồng bảo lãnh thế chế chấp bất động sản số 7831 ngày 26/10/2010 giữa ông C và Ngân hàng (viết tắt là Hợp đồng thế chấp) vô hiệu là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên,cấp sơ thẩmnhận định vàxác định lỗidẫn đến Hợp đồng ủy quyền vô hiệu và Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệulà do ông Hồ, Nguyễn và C như sau:ông Nguyễn và ông Hồ là người gây ra lỗi nhiều nhất nên phải chịu 60% lỗi, gây ra thiệt hại: 5.419.000.000 đồng  (9.031.663.606  x 60%), trong vụ án này ông Hồ và ông Nguyễn có lỗi như nhau nên chia mỗi phần là 2.709.500.000 đồng (thực chất ông Hải, ông Quang mỗi ông chỉ chịu 30%); ông C chịu là 40% lỗi nên phải tự chịu thiệt hại là: 3.612.700.000 đồng (9.031.663.606  x 40%). Cấp sơ thẩm xác định các ông Hồ, Nguyễn, C liên đới chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại là chưa đầy đủ, thiếu chính xác và không phù hợp với thực tế diễn biến từ Hợp đồng ủy quyền, bởi các lẽ sau đây:

Thứ nhất, về lỗi và trách nhiệm bồi thường của ông Hồ

Theo báo cáo ngày 31/8/2017 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra: do cần tiền, ông Quang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà tại quận L để vay ông Nguyễn nhiều tổng cộng 120.000.000 đồng. Vì không có tiền trả nợ, ông Hồ đã giấu vợ là bà Phạm lập Hợp đồng ủy quyền đứng tên bên ủy quyền là ông Hồ và bà Phạm ủy quyền cho ông Nguyễn được thay mặt và nhân danh vợ chồng ông toàn quyền định đoạt tài sản là nhà và đất nêu trên. Để tránh sự phát hiện của bà Lự và qua mặt Công chứng viên, ông Hồ đã nhờ bà Mỹ, trú tại quận C là người ông Quang đang nợ tiền, đóng giả là bà Phạm đến Văn phòng Công chứng T ký và điểm chỉ vào hợp đồng ủy quyền. Ông Hồ làm đơn báo mất Chứng minh nhân dân (CMND) và giả chữ ký của bà Phạm rồi lấy ảnh của bà Mỹ dán vào đơn báo mất CMND, đến Công an Phường chứng thực mất CMND. Bằng thủ đoạn trên, ông Hồ, bà Mỹ và ông Nguyễn đã đến Văn phòng Công chứng T Hợp đồng ủy quyền.

Việc gian dối và giả mạo nêu trên, ông Hồ khai là do Nguyễn ép buộc. Ông Nguyễn không thừa nhận việc ép buộc ông Hồ trong việc lập hợp đồng ủy quyền. Ông Hải khai bản chất của Hợp đồng ủy quyền thực chất là việc vợ chồng ông Hồ bán nhà đất cho ông Nguyễn với giá: 1.920.000.000 đồng. Ông Nguyễn không biết Mỹ  đóng giả bà Phạm là vợ của ông Hồ và khai đã trả đủ số tiền cho ông Hồ. Bên cạnh đó, bà Mỹ khai tại Cơ quan điều tra: không thấy ông Nguyễn ép buộc ông Hồ lập Hợp đồng ủy quyền. Sau sự việc này, ông Hồ cũng không có đơn tố cáo ông Nguyễn ép ông lập Hợp đồng ủy quyền.

Như vậy, để có tiền trả nợ, ông Hồ là người chủ động, là người nhờ bà Mỹ đóng giả bà Phạm- vợ và là đồng sở hữu tài sản để toàn quyền định đoạt nhà đất, gây thiệt hại cho bà Phạm, trị giá 1/2 nhà đất tại quận L. Do đó, ông Hồ là người có lỗi chủ yếu làm cho Hợp đồng ủy quyền vô hiệu dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng và Hợp đồng thế chấp vô hiệu nên phải là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu nhiều nhất.

Thứ hai, về lỗi và trách nhiệm của Văn phòng Công chứng T:

Cấp sơ thẩm không đề cập lỗi và trách nhiệm của Văn phòng Công chứng T trong Hợp đồng uỷ quyền là vô hiệu. Việc Công chứng viên dựa vào Đơn đề nghị cấp lại Chứng minh nhân dân ngày 09/3/2010 mang tên bà Phạm để kiểm tra nhân thân người đi công chứng thay cho giấy tờ tùy thân để thực hiện công chứng Hợp đồng uỷ quyền, trong đó bên uỷ quyền là ký ông Hồ, bà Phạm (do bà Mỹ giả mạo) và bên được uỷ quyền là ông Nguyễn là trái quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 35 Luật Công chứng và tiết b, điểm 1, Khoản 1.1, mục 2 Thông tư liên tịch số 04/TTTL-BTP-BTNMT, ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài Nguyên- Môi trường về hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất thì: Hồ sơ yêu cầu công chứng chứng thực hợp đồng bất động sản phải có bản sao Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu.

Trong trường hợp này, Công chứng viên có quyền từ chối công chứng do người đề nghị công chứng không có giấy tờ tùy thân (Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu) nhưng Công chứng viên vẫn công chứng vào Hợp đồng ủy quyền dẫn đến hậu quả người ký tên và điểm chỉ mang tên bà Phạm tại Hợp đồng ủy quyền không phải là bà Phạm, dẫn đến các Hợp đồng chuyển nhượng và Hợp đồng thế chấp vô hiệu. Do vậy,Văn phòng Công chứng T cũng có lỗi và phải chịu một phần trách nhiệm thiệt hại do Hợp đồng ủy quyền vô hiệu dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng và Hợp đồng thế chấp vô hiệu

Thứ ba, về lỗi và trách nhiệm của ông C:

Cấp sơ thẩm nhận định “có căn cứ để xác định giữa ông Nguyễn và ông C có sự bàn bạc với nhau và ông C biết được việc ông Nguyễn được ủy quyền chuyển nhượng tài sản trên là không hợp pháp nhưng ông C vẫn mua bán”. Đây là nhận định mang tính chất suy đoán và mâu thuẩn với báo cáo ngày 31/8/2017 và công văn ngày 02/11/2015 của Cơ quan Điều tra, ông C không tham gia vào quá trình ký kết Hợp đồng ủy quyền. Mặt khác, khi ông Nguyễn ký Hợp đồng chuyển nhượng cho ông C trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền trên, thì ông Chương không biết hành vi gian dối và trái pháp luật của Hợp đồng ủy quyền này. Nhưng cấp sơ thẩm lại xác định ông C phải chịu lỗi và bồi thường 40% giá trị thiệt hại là không đúng.

      Vụ án trên đã được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm phối hợp với Tòa án cùng cấp chọn làm phiên tòa rút kinh nghiệm, đồng thời ban hành thông báo rút kinh nghiệm chung trong năm 2018.

(*) Tên của các đương sự trong vụ án đã được tác giả thay đổi

Tác giả bài viết: VH-P10

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

VKS Quảng Nam
Viện kiểm sát tối cao
Quản lý án dân sự
Hộp thư điện tử
Phần mềm quản lý án hình sự
Đại học kiểm sát
Tạp chí kiểm sát
thư viện pháp luật
báo bảo vệ pháp luật
Truyền hình kiểm sát

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 4811

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 77886

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12923640

video