12:40 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn !

Tin mới

Trang chủ » Tin Tức » Kiểm sát viên viết

Sửa bản án dân sự sơ thẩm

Thứ ba - 27/06/2017 17:12
Sáng ngày 26/6/2017, Kiểm sát viên Ngô Văn Hùng đã tham gia phiên toà xét xử đối với vụ án dân sự phúc thẩm “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn: Bà Lê Thị Năm – sinh năm: 1961 và các đồng bị đơn: Ông Đặng Minh Hoàng – sinh năm: 1946, ông Đặng Tiến Dũng – sinh năm: 1977, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt – sinh năm: 1982, bà Nguyễn Thị Trang – sinh năm 1971 với nội dung như sau:

Ngày 27/02/2014 ông Đặng Minh Hoàng có mượn của bà Lê Thị Năm số tiền 400.000.000đ, khi mượn tiền ông Hoàng giao cho bà Năm GCNQSDĐ số BE 605373, thửa đất số 34, tờ bản đồ số 19 tại xã Hoà Tiến thuộc quyền sử dụng của hộ ông Hoàng để làm tin. Ông Đặng Văn Chí (con trai ông Hoàng) là người viết giấy mượn tiền, ông Hoàng đã đọc lại và ký tên. Giấy mượn tiền ghi mượn của bà lê Thị Năm và bà Lê Thị Mười số tiền 400.000.000đ và hẹn đến ngày 27/3/2014 sẽ trả. Đến ngày 07/7/2014 thì bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị trang đến nhà máy gạo của bà Năm và nói bà cho 02 người mượn thêm số tiền 400.000.000đ để đáo hạn Ngân hàng rút 01 bìa đỏ nào đó về đồng thời nói bà trả GCNQSD của ông Hoàng để nhập 02 GCNQSD đất mới có thể đi vay về trả nợ cho bà. Bà Năm đã giao GCNQSD đất đứng tên ông Hoàng cho bà Trang và bà Nhựt mang về cùng lúc đó bà đã đưa cho 02 người Trang, Nhựt mượn số tiền 400.000.000đ. Cả hai người ký giấy và viết mượn lại của bà số tiền 400.000.000đ. Cũng trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2014 bà Nguyễn Thị Kim Nhựt có mượn của bà Năm 04 lần với tổng số tiền là 420.000.000đ, khi mượn bà Nhựt bảo là để mua vé số trúng thưởng vì bà Nhựt làm đại lý vé số. Khi bà Nhựt hẹn mà không trả nên ngày 15.10.2014 bà Năm yêu cầu bà Nhựt viết gộp các khoản nợ vào một tờ giấy mượn số tiền là 420.000.000đ và ghi phương án trả nợ là trả góp hằng tháng.

Sau đó, vào các ngày 16,17,18 tháng 10 năm 2014 bà Nhựt và ông Đặng Tiến Dũng(chồng bà Nhựt) có mượn của bà Năm nhiều lần với tổng số tiền là 440.000.000đ, mỗi lần mượn đều có viết giấy mượn tiền, mục đích mượn là để kinh doanh sắt thép trong TP HCM. Do thấy có hợp đồng mua bán sắt thép nên bà tin tưởng và cho vợ chồng ông Dũng, bà Nhựt mượn tiền. Đến ngày 20.10.2014 ông Dũng, bà Nhựt muốn mượn thêm tiền nên hẹn bà đến quán cà phê Hương Cau viết gộp vào một giấy mượn tiền cả hai cùng ký với số tiền mượn là 440.000.000đ và bảo bà cho mượn thêm 50.000.000đ, khi nhận tiền thì bà Nhựt viết giấy mượn tiền đề ngày 20.10.2014 để ông Dũng ký. Hai khoản tiền mượn đều hẹn trả trong thời hạn 30 ngày.

Cách 20 ngày sau ông Dũng nói là vợ chồng ông cần tiền đáo hạn Ngân hàng để lấy bìa đỏ đất tại Quảng Nam về và bảo bà Năm cho mượn số tiền 295.000.000đ. Bà đưa tiền cho ông Dũng, bà Nhựt tại quán cà phê, ông Dũng, bà Nhựt có viết giấy mượn tiền. Mấy ngày sau cháu bà Năm nằm viện tại bệnh viện Hoàn Mỹ thì vợ chồng Dũng, Nhựt đến bệnh viện mượn của bà 50.000.000đ rồi hứa sẽ thế chấp cả 03 bìa đỏ để vay ngân hàng đủ tiền  trả cho bà. Khi nhận tiền thì bà Nhựt viết giấy gộp với số nợ 295.000.000đ thành số tiền mượn là 345.000.000đ và ông Dũng là người ký giấy mượn tiền, bà Năm giao trả giấy mượn số tiền 295.000.000đ lại cho vợ chồng ông Dũng.

Tiếp đó vào ngày 23/12/2014 Đặng Tiến Dũng tiếp tục mượn của bà Năm số tiền 100.000.000đ mục đích là để đáo hạn lấy bìa đỏ đất ở Quảng Nam về sẽ vay đủ tiền trả toàn bộ nợ cho bà, bà tin tưởng và giao cho ông Dũng số tiền 100.000.000đ. Đặng Tiến Dũng viết giấy mượn tiền và hẹn ngày 03/01/2015 sẽ trả.

Vì thời gian cho mượn đã quá lâu, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt mới chỉ trả góp là được 38.000.000đ cho món vay 420.000.000đ. Trong thời gian sau khi vợ chồng ông Dũng, bà Nhựt mượn tiền thì bà Nhựt có trả cho bà Năm số tiền 340.000.000đ cho khoản nợ 345.000.000đ, ông Dũng trả được 45.000.000đ cho khoản nợ 100.000.000đ. Tất cả những khoản tiền này là tài sản chung của vợ chồng bà Năm và bà vay mượn của anh em trong nhà để cho vợ chồng ông Dũng, Nhựt vay mượn.

Đại diện theo uỷ quyền của bà Năm đề nghị Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông Dũng bà Nhựt trả lại cho vợ chồng bà Năm số tiền nợ gốc tổng cộng là 932.000.000đ và tiền lãi chậm trả tính từ thời điểm chậm trả theo từng giấy mượn tiền đến ngày 17/02/2017 (ngày xét xử sơ thẩm). Đối với khoản nợ 345.000.000đ bà Nhựt đã trả 340.000.000đ nên không tính lãi.

Đối với khoản nợ của ông Đặng Minh Hoàng, đại diện theo uỷ quyền của bà Năm đề nghị Toà án buộc ông Đặng Minh Hoàng trả cho vợ chồng bà Năm số nợ gốc là 400.000.000đ và không yêu cầu tính lãi.

Đối với khoản nợ mà bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang mượn của bà Năm vào ngày 07/7/2014, đại diện theo uỷ quyền của bà Năm đề nghị Toà án buộc bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang trả cho vợ chồng bà Năm số tiền 400.000.000đ và không tính lãi, chia phần mỗi người trả một nửa.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại bản án số 04/2017/DS-ST ngày 17/02/2017  của TAND huyện Hoà Vang đã quyết định:“Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị Năm đối với ông Đặng Minh Hoàng, đối với bà Nguyễn Thị Trang, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và đối với ông Đặng Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt về việc” Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.  Buộc ông Đặng Minh Hoàng phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Lê Thị Năm, ông Nguyễn Đức Thanh số tiền là 400.000.000đ. Buộc bà Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Kim Nhựt phải liên đới trả cho vợ chồng bà Lê Thị Năm ông Nguyễn Đức Thanh số tiền 400.000.000đ. Chia phần bà Trang, bà Nhựt mỗi người phải trả cho vợ chồng bà Năm số tiền 200.000.000đ. Buộc bà Nguyễn Thị Kim Nhựt phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Lê Thị Năm ông Nguyễn Đức Thanh số tiền 459.546.000đ, trong đó tiền gốc là 382.000.000đ và tiền lãi là 77.546.000đ. Buộc vợ chồng ông Đặng Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt  phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Lê Thị Năm ông Nguyễn Đức Thanh số tiền 667.957.500đ, trong đó tiền gốc là 550.000.000đ và tiền lãi là 117.957.500đ…

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Đặng Minh Hoàng, ông Đặng Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang đều có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 17/02/2017  của TAND huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.

Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng nhận định như sau:

*Xét đơn kháng cáo của ông Đặng Minh Hoàng: Cả bà Năm và ông Hoàng đều thừa nhận ngày 27/02/2014 ông Hoàng có viết giấy mượn bà Năm số tiền là 400.000.000đ, hẹn đến ngày 27/3/2014 sẽ trả và ông có giao cho bà Năm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 605373, thửa số 34, tờ bản đồ số 19 tại xã Hoà Tiến thuộc quyền sử dụng của hộ ông Hoàng để thế chấp. Theo bà Năm đến nay ông Hoàng vẫn chưa trả số tiền mượn 400.000.000đ nên bà nên khởi kiện yêu cầu ông Hoàng trả cho bà số tiền trên. Còn theo ông Hoàng thì bà Năm không trực tiếp giao tiền cho ông mà lại giao cho con dâu ông là bà Nguyễn Thị Trang số tiền 360.000.000đ chứ không phải là 400.000.000đ nên khi trả tiền ông cũng giao cho bà Trang số tiền 400.000.000đ để trả lại tiền cho bà Năm, lúc đó bà Trang đi cùng với bà Nhựt. Bà Trang cũng xác nhận đã giao đủ số tiền 400.000.000đ cho bà Năm và được bà Năm giao lại GCNQSDĐ trên.

Qua nghiên cứu hồ sơ thấy, tại giấy mượn tiền ngày 27/02/2014 thể hiện ông Hoàng vay của vợ chồng bà Năm số tiền 400.000.000đ có thế chấp là 01 GCNQSDĐ, vì thế bà Năm chỉ giao lại GCNQSDĐ trên khi ông Hoàng đã trả xong số nợ trên cho bà. Tại các bản trình bày của ông Hoàng, bà Trang và bà Năm đều xác định bà Năm đã giao lại GCNQSDĐ  cho bà Trang. Hơn nữa, bà Năm còn trình bày về việc ngày 07/7//2014 bà Trang và bà Nhựt có mượn lại bà Năm số tiền 400.000.000đ điều này thể hiện bà Trang, bà Nhựt vừa trả số tiền 400.000.000đ của ông Hoàng vay xong thì sau đó hai bà đã mượn lại số tiền này. Vì thế, những lời khai của ông Hoàng hoàn toàn có căn cứ.

Vậy nên, cấp sơ thẩm buộc ông Hoàng phải trả cho bà Năm số tiền 400.000.000đ không có căn cứ.

* Xét đơn kháng cáo của ông Đặng Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang :

Tại giấy mượn tiền ngày 15/10/2014 thể hiện bà Nhựt có viết giấy mượn bà số tiền là 420.000.000đ và hẹn trả góp hàng tháng. Theo bà Nhựt thì bà cho rằng số tiền này không đúng với số tiền thực tế bà đã nhận nhưng bà lại không đưa ra bằng chứng chứng minh số tiền thực nhận từ bà Năm. Hơn nữa, tại các biên bản hoà giải thì cả bà Năm và bà Nhựt đều xác nhận bà Nhựt đã trả góp được 38.000.000đ. Vậy nên, cấp sơ thẩm xử buộc bà Nhựt phải trả cho bà Năm số tiền nợ gốc còn lại của khoản vay này là 382.000.000đ và tiền lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước qui định 9%/năm là 77.546.000đ là có căn cứ và đúng pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thấy: Tại 02 giấy mượn tiền cùng ngày 20/10/2014, giấy mượn tiền đề ngày 20/11/2014 và giấy mượn tiền ngày 23/12/2014 thể hiện vợ chồng ông Dũng, bà Nhựt mượn của vợ chồng bà Năm, ông Thanh số tiền lần lượt là 440.000.000đ (hẹn trả thong thời hạn 1 tháng), 50.000.000đ (hẹn trả trong vòng 1 tháng), 345.000.000đ  (hẹn ngày 03/01/2015 trả nhưng bà Năm không yêu cầu tính lãi) và 100.000.000đ (hẹn đến ngày 03/01/2015 sẽ trả). 

Đối với khoản vay 440.000.000đ, Tại đơn kháng cáo của bà Nhựt thì bà xác định số tiền 440.000.000đ ngày 20/10/2014 chính là khoản nợ mà bà Nhựt đã viết giấy mượn tiền đề ngày 15/10/2014 với tiền là 420.000.000đ nhưng bà lại không xuất trình chứng cứ chứng minh. Còn tại đơn kháng cáo của ông Dũng thì ông lại xác định khoản nợ 440.000.000đ này là thoả thuận giữa vợ chồng ông và bà Năm các khoản nợ ngày 18/7/2014, 13/8/2014, 27/8/2014 + đầu tháng 3 năm 2014 (ông mượn dùm cho ông Đặng Văn Chí ) và tiền lãi nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Dũng chỉ xuất trình 02 giấy mượn tiền thể hiện 03 lần mượn tiền vào ngày 18/7/2014 ông vợ chồng ông Dũng, bà Nhựt mượn bà Năm 50.000.000đ, ngày 27/8/2014 bà Nhựt mượn 40.000.000đ và ngày 13/8/2014 bà Nhựt mượn 50.000.000đ. Còn khoản vay 100.000.000đ ông mượn dùm cho ông Chí và 200.000.000đ tiền lãi thì ông  không xuất trình được chứng cứ chứng minh.

Đối với khoản tiền 50.000.000đ vợ chồng ông Dũng cũng xác nhận sau khi viết giấy mượn tiền với số tiền 440.000.000đ thì vợ chồng ông lại tiếp tục mượn của bà Năm số tiền 50.000.000đ và viết giấy mượn tiền vào cùng ngày.

Đối với giấy mượn số tiền 345.000.000đ đề ngày 20/11/2014  , thì theo lời trình bày của cả ông Dũng, bà Nhựt và bà Năm đều xác nhận là khoản tiền vay này là khoản tiền cộng từ 02 khoản vay là 295.000.000đ và 50.000.000đ.

Còn đối với giấy mượn số tiền 100.000.000đ đề ngày 23/12/2014 vợ chồng ông Dũng, bà Nhựt mượn của bà Năm cũng đều được ông Dũng, bà Nhựt thừa nhận tại các bản tự khai và các biên bản hoà giải và tại phiên tòa.

Vậy, vợ chồng ông Dũng bà Nhựt mượn của bà Năm số tiền là 935.000.000đ. Theo bà Năm thì vợ chồng ông đã trả được 340.000.000đ số tiền nợ gốc đối với số tiền mượn 345.000.000đ và trả được 45.000.000đ đối với số tiền mượn 100.000.000đ nên vợ chồng ông bà còn nợ số tiền gốc của bà Năm là 550.000.000đ

Chính vì vậy, cấp sơ thẩm buộc ông Dũng bà Nhựt trả cho vợ chồng bà Hoa ông Thanh số tiền nợ gốc là 550.000.000đ và 117.957.500đ tiền lãi là có căn cứ và đúng pháp luật.

Ngoài ra, bà Lê Thị Năm còn xác định bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang có viết giấy mượn lại số tiền 400.000.000đ (không tính lãi) vào ngày 07/7/2014. Mặc dù, trong quá trình giải quyết vụ án cả bà Nhựt và bà Trang đều thừa nhận đã ký vào tờ giấy đề ngày 07/7/2017 nhưng cả bà Trang và Nhựt đều không thừa nhận mượn 400.000.000đ của bà Năm. Bà Trang, bà Nhựt đều trình bày vào ngày 07/7/2017 trả cho bà Năm số tiền 340.000.000 cho khoản vay của ông Hoàng và ký giấy này để nhận lại GCNQSD đất của ông Hoàng chứ không vay tiền của bà Năm. Tuy nhiên, tại giấy ngày 07/7/2014 có chữ ký của hai bà lại không thể hiện việc hai bà đã nhận lại GCNQSDĐ và trả lại cho bà Năm số tiền 340.000.000đ trả bà Năm giúp cho ông Hoàng. Mặt khác, hai bà cũng không đưa ra bất cứ bằng chứng gì chứng minh việc hai bà ký giấy trên để nhận lại GCNQSDĐ.

Vì thế, cấp sơ thẩm buộc bà Nhựt và bà Trang mỗi người phải trả cho vợ chồng bà Năm số tiền 200.000.000đ đối với khoản vay 400.000.000đ là có căn cứ.

Vào lúc 17h cùng ngày, kết thúc phiên toà xét xử dân sự phúc thẩm, Hội đồng xét xử thống nhất toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đặng Minh Hoàng, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đặng Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Nhựt và bà Nguyễn Thị Trang. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 17/02/2017 của TAND huyện Hoà Vang, TP Đà Nẵng.

Tác giả bài viết: Ngô Văn Hùng P9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: sinh năm

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập tin nội bộ

Website liên kết

Hộp thư điện tử
Đại học kiểm sát
VKS Quảng Nam
Viện kiểm sát tối cao
Quản lý án dân sự
báo bảo vệ pháp luật
Truyền hình kiểm sát
Phần mềm quản lý án hình sự
thư viện pháp luật
Tạp chí kiểm sát

Số truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 50

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 47


Hôm nayHôm nay : 2858

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 159515

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9678186

Bình yên trên vùng đất mới