menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của BLTTHS 2015
Đăng ngày 28-11-2018 14:26
Theo quy định của pháp luật hiện nay, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, tùy vào tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của của người phạm tội mà cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nhau. Trong đó, có biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Theo đó, Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Cấm đi khỏi nơi cư trú như sau:

        Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú

        1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

        2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

        a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

        b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

        c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

        d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

        Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

        3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

        4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

          5. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.

Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.

        Tuy nhiên, qua công tác thanh tra nghiệp vụ nhận thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú chưa thực sự được các đơn vị quan tâm và kiểm sát chặt chẽ, còn để xảy ra các dạng vi phạm như sau:

        - Hồ sơ KSĐT không thể hiện việc bị can có giấy cam đoan về việc cấm đi khỏi nơi cư trú hay không;

          - Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan điều tra không ghi rõ thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú;

        - Hồ sơ KSĐT không thể hiện việc thông báo về việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú...

        Nguyên nhân để xảy ra những thiếu sót trên là do kiểm sát viên được phân công chưa nắm vững quy định về THQCT, kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú quy định tại Điều 19 Quy chế tạm thời Công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện KSND tối cao).

        Điều 19 . Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

        1. Sau khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, Kiểm sát viên phải kiểm sát căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và việc thông báo về việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra. Nếu phát hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ lệnh đó. Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan có thẩm quyền điều tra.

        Trường hợp phát hiện bị can vi phạm việc thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can.

        2. Trong giai đoạn truy tố, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự.

        Trường hợp trong giai đoạn truy tố, nếu bị can đã được quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố của các đơn vị, Thanh tra Viện KSND thành phố Đà Nẵng đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm chung về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đểgóp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Tố tụng hình sự và đáp ứng yêu cầu Cải cách tư pháp trong tình hình mới.