menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Tòa án chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, tuyên hủy án sơ thẩm để giải quyết lại do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Đăng ngày 14-10-2019 10:22

Ngày 10/10/2019, Toàn án nhân dân (TAND) thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận tài sản gắn liền trên đất” giữa nguyên đơn bà Đồng Thị Ngọc Q, ông Tán Chí C (cùng trú tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) với bị đơn ông Đồng Ngọc B, bà Phùng Thị Trang Đ (cùng trú tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Ðà Nẵng) do bản án sơ thẩm có kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Đà Nẵng.

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Đồng Thị Ngọc Q, ông Tán Chí C trình bày:

Ông nội bà Q là cụ Đồng X (sinh năm: 1906, đã chết) sinh được 4 người con là: Đồng Thị L - Sinh năm: 1929; Đồng Thị V - Sinh năm: 1935 (đã chết); Đồng Thị D - Sinh năm: 1937 (đã chết) và cha bà là ông Đồng H – Sinh năm: 1932.

 Khi ông nội bà Q qua đời có giao lại cho cha bà là ông Đồng H một số ruộng đất khoảng 6 mẫu (có trích lục sở địa chính thời Pháp thuộc cấp năm 1935) để canh tác lo hương khói cho ông bà, tổ tiên. Sau giải phóng năm 1975, ông Đồng H giao ruộng đất trên cho Hợp tác xã nông nghiệp quản lý và giữ lại một số thửa đất sát Quốc lộ 1A (cũ) để canh tác lo cuộc sống. Đến khi các con trưởng thành, ông Huấn chia cho mỗi người con 01 lô để làm nhà ở.

Ông Đồng Ngọc B là anh trai bà Q đã được cha mẹ phân cho lô đất tại địa chỉ 812 Tôn Đức Thắng, Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng nhưng đã bán cho nhà sách Hòa Khánh và số tiền đó ông B đã nhận. Sau khi bán lô đất trên thì ông B chuyển về ở lô đất do cha mẹ đã phân chia thêm (tại đường Tôn Đức Thắng). Một thời gian sau khi ông B chuyển về ở tại đường Tôn Đức Thắng thì gia đình bà Q cũng chuyển về ở lô đất mà cha mẹ phân chia cho sát bên cạnh lô đất của ông Bảo tại địa đường Tôn Đức Thắng.

Quá trình sử dụng đất, ông B tự kê khai không thông qua cha mẹ và các anh chị em trong gia đình. Lô đất mà gia đình bà Q hiện nay đang ở là lô đất mà cha mẹ cho có chiều dài 25m, rộng 4m, thuộc thửa đất 460, tờ bản đồ số 15,  diện tích 100m2 chung thửa với lô đất của ông B. Gia đình bà Q đã làm nhà ở ổn định từ năm 1997 đến nay không ai tranh chấp. Nhưng đến năm 2016, ông B có ý định chiếm đoạt phần đất mà cha mẹ cho bà Q nên dùng nhiều thủ đoạn gây cản trở cuộc sống gia đình bà Q. Tháng 8/2017, ông B tự ý đập tường và đưa đồ đạc qua nhà bà Q dẫn đến tranh chấp, nhiều lần UBND phường đã tổ chức hòa giải nhưng đều không thành.

Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Q, ông C khởi kiện đề nghị tòa án công nhận nhà đất tại đường Tôn Đức Thắng có giá trị là 5.247.513.494 đồng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông, bà.

Bị đơn ông Đồng Ngọc B, bà Phùng Thị Trang Đ trình bày:

Vợ chồng ông, bà kết hôn năm 1987 đến năm 1990 thì ra ở riêng. Khi đó, cha ông B là ông Đồng H chỉ cho vợ chồng ông, bà mảnh đất bỏ hoang cỏ rác um tùm và vợ chồng ông, bà tự khai hoang cải tạo, đổ đất nâng mặt bằng xây dựng ngôi nhà tạm để ở từ đó đến nay.

Năm 1993, ông B đứng tên kê khai quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ (có sổ đăng ký biểu tổng hợp đất trong khu dân cư). Gia đình ông, bà cũng đã nộp tiền để làm sổ quyền sử dụng đất theo chủ trương của nhà nước đề ra.

 Năm 1999, vợ chồng ông, bà có cho em gái ông B là bà Đồng Thị Ngọc Q mượn tạm một phần ngôi nhà ván, mái tôn để ở tạm trong lúc đang khó khăn về chỗ ở và bà Q hứa sau khi con cái khôn lớn sẽ trả lại. Đến năm 2001, ngôi nhà ván xuống cấp, bà Q có xin sửa chữa lại để ở tạm và được ông B, bà Đ đồng ý nhưng yêu cầu bà Q làm nhà đơn giản.

Năm 1999, UBND thành phố tiến hành giải tỏa mặt bằng để mở rộng quốc lộ 1A đoạn Liên Chiểu – Hòa Cầm. Tại bản vẽ kiểm định đã xác nhận nhà và đất ở là của ông Đồng Ngọc B và bà Phùng Thị Trang Đ.

Cuối năm 2016, khi cán bộ đến đo đạc bản đồ lập hồ sơ địa chính trên địa bàn thì bà Quốc ngăn cản không cho cán bộ đo đạc. Bà cho rằng phần đất bà đang ở là thuộc quyền sử dụng của bà nên hai bên xảy ra tranh chấp từ đó.

Ngày 05/12/2016, tại biên bản giải quyết đơn kiến nghị của công dân do Phó chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam chủ trì đã khẳng định về mặt pháp lý theo nghị định 64, thửa đất này đứng tên ông Đồng Ngọc B.

Do đó, ông B, bà Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Q, ông C và có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 101,4m2 hiện nay bà Q và ông C đang chiếm hữu nằm trong thửa đất số 460, tờ bản đồ số 15, diện tích 256m2 thuộc quyền sử dụng của ông Đồng Ngọc B; buộc bà Q, ông C phải tháo dỡ ngôi nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất là 101,4m2 để giao trả lại toàn bộ diện tích đất cho vợ chồng ông B, bà Đ.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 16/5/2019, TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

 “…1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị Ngọc Q và ông Tán Chí C đối với ông Đồng Ngọc B và bà Phùng Thị Trang Đ...

Công nhận lô đất thuộc thửa đất số 460, tờ bản đồ số 15, diện tích 101,4m² và phần tài sản gắn liền trên đất có tổng diện tích xây dựng 93,70m², tổng diện tích sử dụng 119,25m²… thuộc quyền sở hữu và sử dụng của bà Đồng Thị Ngọc Q và ông Tán Chí C...

2. Về án phí:

Ông Đồng Ngọc B và bà Phùng Thị Trang Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.181.640 đồng.

Sung công quỹ Nhà nước số tiền tạm ứng án phí phản tố 19.689.000 đồng mà ông B, bà Đ đã nộp …”.

Sau xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên. Ngày 14/6/2019, VKSND thành phố Đà Nẵng kháng nghị phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tại phiên toà phúc thẩm, sau khi nghe trình bày của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng đã phân tích, lập luận để làm rõ những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của TAND quận Liên Chiểu như: chưa xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ; xác định yêu cầu phản tố không chính xác dẫn đến việc thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố và sung công quỹ tiền tạm ứng án phí phản tố không đúng quy định…trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị của VKSND thành phố Đà Nẵng, tuyên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng: căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS, chấp nhận kháng nghị của VKSND thành phố Đà Nẵng, tuyên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 07/2019/DS-ST ngày 16/5/2019 của TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; giao hồ sơ về TAND quận Liên Chiểu để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Bùi Thị Hiền – Phòng 9

(Hình minh họa nguồn https://hocluat.vn)