menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Chấp nhận một phần kháng nghị phúc thẩm, tăng hình phạt 03 bị cáo
Đăng ngày 05-11-2019 02:18

Ngày 01.11.2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Đà Nẵng, đã diễn ra phiên tòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 249 và 248 Bộ luật hình sự (BLHS).

Nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian từ 20.5.2017 đến 19.7.2017, trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Dương NL, Hoàng TS, Nguyễn Thị KV, Nguyễn Thị TT, Nguyễn ĐL, Lê VC, Lê Thị HN, Phan Thị KC, Bùi TT, Nguyễn VT, Phan Thị DL cùng một số người đồng phạm và một đối tượng khác đã có hành vi nhiều lần đánh bạc với hình thức là mua, bán số đề, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các Công ty xổ số kiến thiết mở thưởng hằng ngày để quy ước cách tính thắng thua bằng tiền, các bị can đã tổ chức ghi số đề, nhận và chuyển tin nhắn tịch đề cho người khác để hưởng tiền hoa hồng. 

Ngày 12.7.2019 của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã đư vụ án ra xét xử và đã tuyên tại Bản án sơ thẩm số 54/2019/HSST như sau:

- Tuyên bố các bị cáo: Dương NL, Hoàng TS, Nguyễn Thị KV, Nguyễn ĐL, Nguyễn Thị TT, Lê VC, Lê Thị HN, Phan Thị KC, Bùi TT phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn VT, Phan Thị DL phạm tội “Đánh bạc”;

- Áp dụng:

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3, Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt BLHS 2015), Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm s, u khoản 1, 2, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Dương NL 30 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 30.000.000 đồng.

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3, Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm  s, t khoản 1, 2, Điều 51, điểm g, K1, Điều 52, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng TS 24 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 30.000.000 đồng.

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3, Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm  s,  khoản 1, 2, Điều 51, điểm g, K1, Điều 52, Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị KV 24 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 30.000.000 đồng.

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3 Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, Khoản 1, Điều 52, Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn ĐL18 tháng tù. Phạt bổ sung 20.000.000 đồng.

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3, Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm s khoản 1, 2, Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị TT 12 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.

+ Điểm b, khoản 2, khoản 3, Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7 BHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lê VC12 tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.

+ Khoản 1, khoản 3,  Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7, BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội, điểm n, s, Khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, Khoản 1, Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Lê Thị HN12  tháng tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

+ Khoản 1, khoản 3,  Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 7, BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Phan Thị KC 12  tháng tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

+ Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 1999; Điều 7 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Bùi TT 12  tháng tù.

+ Điểm b khoản 2, 3 Điều 248 BLHS năm 1999; Điều 7; Điều 54 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn VT 09 tháng tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

+ Điểm b khoản 2, 3 Điều 248 BLHS năm 1999; Điều 7; Điều 54 BLHS 2015, Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Phan Thị DL 09 tháng tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

Tuy nhiên Bản án sơ thẩm số 54/2019/HSST ngày 12.7.2019 của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã bị các bị cáo Phan Thị KC, Hoàng TS, Bùi TT, Lê Thị HN, Nguyễn Thị TT, Nguyễn VT kháng cáo xin được hưởng án treo; các bị cáo Phan Thị DL, Lê VC kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đồng thời, ngày 26.7.2019, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) quận Sơn Trà đã kháng nghị phúc thẩm một phần Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên; Đề nghị TAND thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng:

- Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 cho bị cáo Hoàng TS;

- Không áp dụng Điều 54 BLHS 2015 và tăng hình phạt đối với các bị cáo Dương NL, Hoàng TS, Nguyễn Thị KV;

- Tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị TT, Nguyễn ĐL, Lê Thị HN.

Việc kháng cáo, kháng nghị đúng hình thức và chủ thể theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336, Điều 337 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 và tại phiên tòa phúc thẩm, 02 bị cáo Hoàng TS và Phan Thị DL rút toàn bộ kháng cáo của mình.

Hình ảnh phiên tòa xét xử phúc thẩm tại TAND thành phố Đà Nẵng 

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Trung cấp đại diện cho VKSND thành phố Đà Nẵng được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên Tòa đã phát biểu quan điểm như sau:

1. Về kháng nghị phúc thẩm của VKSND quận Sơn Trà

- Bị cáo Dương NL: Kể từ ngày 26/6/2017 đến ngày 19/7/2017, NL đã 11 lần nhận tin nhắn tịch đề, với số tiền nhận tin nhắn ít nhất là: 4.994.000 đồng, nhiều nhất là: 2.572.748.000 đồng; chuyển 06 lần chuyển tin nhắn tịch đề, với số tiền chuyển tin nhắn ít nhất là 363.105.000 đồng, nhiều nhất là 851.755.000 đồng. Tổng  số tiền dùng để đánh bạc là 13.506.607.000 đồng. Ngoài ra, Dương NL đã cùng với Lê TH giữ lại tin nhắn tịch đề để tính tiền thắng thua với người khác với tổng số tiền là 1.009.017.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính của NL trong vụ án này là: 133.172.000 đồng. Như vậy, trong vụ án này Dương NL đã có hành vi tổ chức đánh bạc với số tiền rất lớn (13.506.607.000 đồng). Hành vi phạm tội của Dương NL là rất nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo phạm tội nhiều lần với số tiền lớn, nhưng TAND quận Sơn Trà áp dụng Điều 54 BLHS để xử mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và tuyên phạt bị cáo NL 30 tháng tù là không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời không có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Bị cáo Hoàng TS: Kể từ ngày 27/6/2017 đến ngày 19/7/2017, đã 23 lần nhận tin nhắn tịch đề, với số tiền nhận tin nhắn ít nhất là 66.263.000 đồng, nhiều nhất là 355.771.000 đồng; chuyển 19 lần tin nhắn tịch đề, với số tiền ít nhất là: 3.360.000 đồng, nhiều nhất là 447.650.000 đồng; tổng số tiền đã sử dụng để đánh bạc là: 5.723.524.000 đồng. Bản án sơ thầm nhận định bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, giúp cơ quan điều tra khởi tố bổ sung bị cáo Lê Thị HN nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 là không đúng quy định, bởi lẽ trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an quận Sơn Trà đã xác minh và tiến hành lấy lời khai của Lê Thị HN đã khai nhận có tham gia tổ chức đánh bạc dưới hình thức số đề với TS, việc Hoàng TS khai rõ ràng về hành vi phạm tội của HN là thuộc trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo. Đồng thời, trong vụ án này bị cáo Sương tuy không phải chủ đề cuối cùng đứng ra tổ chức đánh bạc, tính tiền thắng thua với các con bạc, nhưng bị cáo là một trong những mắc xích quan trọng của đường dây tổ chức đánh số đề, đứng ra thu nhận các tịch đề từ những người ghi số đề khác chuyển đến để chuyển lại cho đầu mối cấp trên với số tiền tổ chức đánh bạc lớn và giúp cho chủ đề thu lợi với số tiền bất chính lớn như: Ngày 15.7.2017, chuyển 55 tin nhắn với số tiền trên tịch là 195.069.000 đồng, tiền thực tế là 136.353.000 đồng cho người có tên “Chủ đề”, giúp cho người này thu lợi bất chính với số tiền 52.966.000 đồng; ngày 17.7.2017, chuyển 58 tin nhắn với số tiền trên tịch là 145.556.000 đồng, tiền thực tế là 101.743.000 đồng cho người có tên “Chủ đề”, giúp cho người này thu lợi bất chính với số tiền 64.208.000 đồng, đồng thời trong suốt thời gian tổ chức đánh bạc, TS đã nhận toàn bộ tịch đề do bị cáo Nguyễn Thị KV chuyển đến để giúp KV thu lợi bất chính với tổng số tiền 70.000.000 đồng nên bị cáo giữ vai trò đồng phạm giúp sức với những người trên về số tiền thu lợi bất chính lớn. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc hơn để đăm bảo răn đe và giáo dục, nhưng TAND quận Sơn Trà lại áp dụng Điều 54 BLHS để xử mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và tuyên phạt bị cáo TS 24 tháng tù là không tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, không có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Đối với bị cáo Nguyễn Thị KV, Nguyễn Thị TT, Nguyễn ĐL: Từ ngày 20.5.2017 đến ngày 19.7.2017, đã 45 lần nhận tin nhắn tịch đề, với số tiền nhận tin nhắn ít nhất là: 1.300.000 đồng, nhiều nhất là 156.930.000 đồng, 21 lần chuyển tin nhắn tịch đề, với số tiền đã chuyển ít nhất  là 5.550.000 đồng, nhiều nhất là 88.097.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc  là 1.292.594.000 đồng; và thu lợi bất chính với số tiền 70.000.000 đồng. Trong vụ án này, cũng như các bị cáo Hoàng TS, Dương NL, mặc dù không phải là người cuối cùng tổ chức đường dây đánh bạc dưới hình thức số đề, tính tiền thắng thua với các con bạc nhưng bị cáo KV cũng là một mắc xích tích cực trong hoạt động tổ chức đánh bạc, bị cáo nhận tịch đề của nhiều người khác và chuyển lại hết cho bị cáo TS với số tiền đánh bạc lớn (1.292.594.000 đồng) để hưởng hoa hồng và thu lợi với số tiền bất chính lớn, nhưng cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 BLHS 2015 để xử mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và tuyên phạt bị cáo KV 24 tháng tù là không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời không có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Đối với Nguyễn Thị TT và Nguyễn ĐL đã có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thị KV, theo đó bị cáo TT có nhiệm vụ là hàng ngày nhận tịch để, tổng hợp và chuyển tịch đề cho bị cáo KV, còn bị cáo ĐL thì theo sự phân công của bị cáo KV, ĐL có nhiệm vụ đến gặp các con bạc để thu tiền của các con bạc thua và chung tiền cho các con bạc thắng. Với hành vi của mình, Nguyễn Thị T, Nguyễn ĐL đã giúp sức cho KV tổ chức đánh bạc với số tiền lớn, đồng thời thu về số tiền thu lợi bất chính lớn, nhưng do không đánh giá hết vai trò của các bị cáo Nguyễn Thị TT, Nguyễn ĐL trong vụ án này nên TAND quận Sơn Trà xét xử bị cáo Nguyễn ĐL mức án 18 tháng tù, Nguyễn Thị TT mức án 12 tháng tù là không có tác dụng trừng trị và phòng ngừa chung.

- Đối với bị cáo Lê Thị HN: Kể từ ngày 12.7.2017 đến ngày 19.7.2017, đã 19 lần nhận tin nhắn tịch đề, với số tiền ít nhất là: 4.800.000 đồng, nhiều nhất là 68.860.000 đồng; 8 lần chuyển tin nhắn tịch đề, với số tiền ít nhất là: 6.000.000 đồng, nhiều nhất là 26.500.000 đồng; tổng số tiền dùng đánh bạc là 882.465.000 đồng. Trong vụ án này, Lê Thị HN tham gia tổ chức đánh bạc với số tiền lớn. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nhưng cấp sơ thẩm chỉ tuyên phạt bị cáo HN mức án 12 tháng tù (mức khởi điểm của Khoản 1 Điều 249 BLHS 1999) là không có tác dụng răn đe, trừng trị và phòng ngừa chung.

2. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Phan Thị KC, Bùi TT, Lê Thị HN, Nguyễn Thị TT, Nguyễn VT: Trong vụ án này, các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 nên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/ NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo.

3. Đối với kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thị DL, Lê VC: 02 Bị cáo này đều phạm tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2, 3 Điều 248 BLHS năm 1999 với khung hình phạt từ 02-07 năm tù. Việc cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 BLHS 2015 để xử 02 bị cáo mức phạt đều dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã khoan hồng, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà 02 bị cáo được hưởng. Bị cáo VC và DL kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới nào để cấp phúc thẩm xem xét.

Vì vậy, đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của tất cả các bị cáo; chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 03 ngày 26.7.2019 của VKSND quận Sơn Trà, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 BLTTHS 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

- Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 cho bị cáo Hoàng TS;

- Không áp dụng Điều 54 BLHS 2015 và tăng hình phạt đối với các bị cáo Dương NL, Hoàng TS, Nguyễn Thị KV;

- Tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị TT, Nguyễn ĐL, Lê Thị HN.

Hội đồng xét xử đã chấp nhận một phần kháng nghị phúc thẩm; chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị TT, Phan Thị KC, Bùi TT; chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê VC; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị HN, Nguyễn VT; đã tuyên mức hình phạt như sau:

- Tăng hình phạt đối với 03 bị cáo Dương NL (thành 03 năm 6 tháng tù), Hoàng TS (thành 30 tháng tù), Lê Thị HN (thành 15 tháng tù);

- Giữ nguyên án sơ thẩm đối với 03 bị cáo Nguyễn Thị KV, Nguyễn ĐL, Nguyễn VT;

- Giảm một phần hình phạt đối với  03 bị cáo Lê VC (còn 09 tháng 24 ngày tù), Phan Thị KC (còn 09 tháng tù), Bùi TT (còn 09 tháng tù);

- Chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thị TT./.

Lương Hồng Minh- Phòng 7