menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Đảng bộ VKSND thành phố Đà Nẵng triển khai Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ
Đăng ngày 13-11-2019 13:39

 

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là vấn đề hệ trọng của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Để khắc phục có hiệu quả những tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực công tác rất quan trọng này, đồng thời để kiểm soát có hiệu quả hơn nữa công tác tổ chức cán bộ của Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” (viết tắt là Quy định số 205-QĐ/TW). Đây là vấn đề mang tính cấp thiết của việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự tha hóa, tham nhũng quyền lực trong công tác cán bộ.

 

Nội dung cơ bản của Quy định 205- QĐ/TW của Bộ Chính trị bao gồm:

1. Khái niệm kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trên báo Cứu quốc ngày 12/10/1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án tệ nạn là lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông ngênh, cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng,…” . Từ cảnh báo của Người, cho thấy: vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ phải đặt lên hàng đầu. Bởi vì các loại tham nhũng thường bắt đầu từ tham nhũng quyền lực, nhìn từ thực tế các vụ án tham nhũng thời gian qua cho thấy, tình trạng lạm chức, lạm quyền, lộng quyền, thao túng trong công tác cán bộ vẫn còn xảy ra ở nhiều địa phương, đơn vị, một số cán bộ sử dụng quyền lực được giao để thực hiện mục đích cá nhân, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Tuy nhiên, việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm trong sử dụng quyền lực của một số cấp ủy, tổ chức đảng vẫn còn là yếu, chậm được khắc phục. Do vậy, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TW là tất yếu để bảo vệ chế độ, Quy định này giúp kiểm soát quyền lực và chống chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ.

Theo Quy định số 205-QĐ/TW thì: “Quyền lực trong công tác cán bộ là thẩm quyền của tổ chức, cá nhân trong việc tuyển dụng, bố trí, quản lý, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ”.

Do đó, quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền  cần phải được kiểm soát để phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ, đúng đắn quyền lực được giao.

Vậy, kiểm soát quyền lực là gì? phải làm gì để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ? Theo Quy định số 205-QĐ/TW thì: Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ.

Để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, Quy định số 205-QĐ/TW nêu rõ thẩm quyền của người đứng đầu chủ yếu là chỉ đạo, điều hành về thủ tục, quy trình công tác cán bộ, đảm bảo công khai, minh bạch, vận hành đúng đắn nguyên tắc “tập trung, dân chủ”…, chứ không có quyền quyết định về nhân sự vì đó là thẩm quyền của tập thể. Chẳng hạn, Bí thư cấp ủy có trách nhiệm chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ hồ sơ nhân sự và cung cấp cho các thành viên liên quan theo đúng quy định; phải triệu tập đầy đủ, đúng thành phần khi họp bàn về công tác cán bộ; khi điều hành phải dành thời gian thỏa đáng để tập thể thảo luận thật sự dân chủ. Bí thư cấp ủy không được có biểu hiện thao túng, áp đặt ý kiến chủ quan, tác động, gây nhiễu thông tin, gây sức ép để người khác nhận xét, đánh giá, biểu quyết, bỏ phiếu, quyết định nhân sự theo ý chí của mình; phải bố trí thời gian, không gian bảo đảm cho các thành viên độc lập, khách quan khi biểu quyết, phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm;… Đáng chú ý, người đứng đầu khi đã có thông báo nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu hoặc chuyển công tác thì không còn được toàn quyền triển khai các quy trình cán bộ theo thẩm quyền nữa mà phải báo cáo, xin ý kiến cấp trên. Quy định số 205-QĐ/TW cũng quy định về trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ tham mưu đề xuất thuộc cơ quan được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp mà chủ yếu là Ban Tổ chức của cấp ủy hoặc cơ quan nội vụ bên chính quyền. Theo đó, họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về công việc được phân công và nghiêm cấm các hành vi nhũng nhiễu gây khó khăn, phiền hà, hay kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ cán bộ…

Trong những năm qua, vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”" thì vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đã được thể hiện xuyên suốt, đầy đủ. Quy định số 205-QĐ/TW đã thể hiện nhất quán chủ trương của Đảng đấu tranh nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn này.

Quy định số 205-QĐ/TW sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức của những người có chức quyền, đặc biệt là những người có quyền hạn trong công tác cán bộ, đồng thời sẽ điều chỉnh nhận thức và hành vi của những đối tượng đang có ý định chạy chức, chạy quyền. Đây là lần đầu tiên, Đảng ta xác định công tác cán bộ là một loại quyền lực cần được kiểm soát và cũng lần đầu tiên quy định cụ thể các hành vi chạy chức, chạy quyền và các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền (Quy định nêu 6 hành vi chạy chức, chạy quyền, 8 hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; trách nhiệm cũng như biện pháp xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có các hành vi này.).

Việc Đảng ta dành sự quan tâm sâu sắc đến nội dung kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ hiện nay là tất yếu. Bởi vì, ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng một xã hội công bằng và văn minh, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có năng lực và nhân cách tốt. Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực dẫn đến hậu quả không lường. Do đó, Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII)“Về một số vấn đề cấp bách và cơ bản trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” đã khẳng định kiểm soát quyền lực là một trong những vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII chỉ rõ: “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ quan kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”, và “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”. Các Nghị quyết này đã thể hiện quyết tâm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực thật hiệu quả để ngăn chặn có hiệu quả tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm. Để làm cơ sở cho việc kiểm soát quyền lực, Đảng đã lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm của Đảng trong hoạt động lập pháp, hoạt động lập quy để một mặt nhằm giới hạn và nâng cao tính trách nhiệm của quyền lực nhà nước; mặt khác là để tạo cơ sở pháp lý giúp người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình một cách hiệu quả; thực hiện sự phối kết hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát trong Đảng, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước với giám sát, phản biện của các tổ chức xã hội và nhân dân. Đây cũng là quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, trình độ cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Mặc dù, Đảng ta đã hoàn thiện các quy định về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tuy nhiên thời gian qua, quyền lực trong công tác cán bộ nhìn chung chưa được kiểm soát chặt chẽ, thậm chí không ít trường hợp chưa bị kiểm soát và việc lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, gây nhức nhối, bất bình trong xã hội. Nó lan rộng vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,… Dù có nhiều Luật, Nghị định, Thông tư đã quy định cụ thể về điều kiện tiêu chuẩn, quy trình về bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý và các chức danh tư pháp...nhưng trong chọn lựa cán bộ vẫn còn để xảy ra không ít trường hợp cán bộ, đảng viên không đủ điều kiện, tiêu chuẩn vẫn được bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý, chức danh tư pháp cao hơn gây bất bình dư luận

Hiện nay các dạng lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ được“biến tướng” một cách tinh vi, phức tạp và khó nhận biết hơn trước. Mặc dù Hiến pháp và Điều lệ Đảng đã quy định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, nhưng đến nay vẫn chưa cụ thể hóa nguyên tắc này để Đảng thực sự cầm quyền và hoạt động theo pháp luật nên trong một số trường hợp, có lúc, có nơi pháp luật của Nhà nước không hiệu lực bằng quy định nội bộ, rồi quy định nội bộ không hiệu lực bằng "bút phê" hoặc "khẩu dụ" của cá nhân người lãnh đạo… Vấn nạn này ngày càng trở nên phổ biến không chỉ gây nhiều hệ lụy trong công tác cán bộ, gây bức xúc trong dư luận xã hội làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân về chủ quan và khách quan, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa nhận thức và thực hiện đúng chức trách, quyền hạn của mình được giao, trình trạng vượt quyền hạn, thiếu trách nhiệm hoặc không thực hiện hết quyền hạn được giao trong thực thi nhiệm vụ; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp trên chưa kiểm soát được việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp dưới.

2. Một số giải pháp triển khai Quy định 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị tại Đảng bộ VKSND thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

Một là, Các cấp ủy tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước để nâng cao nữa nhận thức của cán bộ, đảng viên về tác hại của sự tha hóa quyền lực, nhất là lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm. Đồng thời, phổ biến Quy định này trong sinh hoạt Chi bộ định kỳ để cho đảng viên nắm được các quy định của Đảng, nhất là quy định về kiểm tra, giám sát công tác cán bộ trong Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm,… Qua đó, tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ việc đấu tranh và phản ánh những dấu hiệu tha hóa quyền lực, tham nhũng, lợi ích nhóm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu nhằm góp phần đắc lực phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

Hai là, Thực hiện đúng quy định về tuyển dụng công chức, bổ nhiệm lãnh đạo, chức danh tư pháp theo quy định của Đảng, Nhà nước và Luật tổ chức VKSND năm 2014, đặc biệt là công tác tuyển dụng, thi cử trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ. Công khai, dân chủ, sàng lọc qua các hình thức cạnh tranh trong bầu cử, thi tuyển dựa trên các chuẩn mực, tiêu chí cụ thể, rõ ràng, dưới sự giám sát của đảng viên. Từ đó, sẽ lựa chọn được người có tài, có đức vừa có tâm, vừa có tầm tham gia cấp ủy. Mặt khác, cần phân định giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể, không để tập thể là nơi để cá nhân " hợp thức" lợi ích cá nhân.

Ba là, thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, Kiểm sát viên. Đây là biện pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Đồng thời, cần tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong công tác cán bộ, nhất là trong tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ.

Bốn là, Cùng với đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ. Cần xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ, không có “vùng cấm”, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở bất kỳ cấp nào, giữ bất kỳ cương vị nào. Nếu lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích riêng, tham nhũng, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ đều phải xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Năm là, kiến nghị Đảng và Nhà nước cần xây dựng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, chính sách, pháp luật; quyền hạn phải được ràng buộc bằng trách nhiệm theo quy định cụ thể trong cơ chế, pháp luật. Cơ chế kiểm soát quyền lực phải theo nhiều kênh khác nhau, như kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức đảng viên, đạo đức công vụ; trách nhiệm giải trình, trách nhiệm công vụ; kiểm soát của cấp trên đối với cấp dưới và ngược lại; kiểm soát chéo giữa các cơ quan, tổ chức; kiểm soát của cơ quan chuyên trách với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của báo chí và dư luận xã hội. Đảng cần đặt quyền lực vào trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, sức mạnh của kỷ luật Đảng và vai trò giám sát của nhân dân. Bên cạnh đó, cần thực hiện nghiêm nguyên tắc: dân chủ, công khai, minh bạch.Trong công tác cán bộ phải công khai, minh bạch để: "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" trong công tác cán bộ là hết sức cần thiết./.

                                                                                                                                                                                                 VH-P10 (ảnh Thanh Vân)