menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Quyết định đình chỉ bị kiến nghị
Đăng ngày 29-05-2020 08:57

Thông qua công tác kiểm sát việc  giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP TP, địa chỉ: Số 57 đường Lý Thường Kiệt, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; bị đơn: Ông Trần Duy  Đ, sinh năm: 1982 và bà Phan Thị T, sinh năm: 1979. Cùng địa chỉ: Tổ 106 cũ (50 mới), phường X, quận TK, Thành phố Đà Nẵng.

Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng nhận thấy, tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2020/QĐST-DS ngày 13/02/2020, Toà án nhân dân quận T căn cứ vào điểm h khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cố vi phạm trong việc áp dụng pháp luật.

Cụ thể, theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2019 thì Ngân hàng TMCP TP yêu cầu ông Đ, bà T phải trả tổng số tiền  204.881.911đ do vi phạm “Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô” số 34/2018/HĐTD/TTB MT/01 ngày 08/01/2018.

Tại “Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô” nêu trên thể hiện:

Ông Trần Duy Đ, sinh năm 1982 có địa chỉ thường trú và nơi ở: Tổ 106, TC, phường XH, quận TK, TP Đà Nẵng

Bà Phan Thị T, sinh năm 1979 có hộ khẩu thường trú: Đội 14, TL, BN, TB, tỉnh Quảng Nam. Nơi ở hiện tại: Tổ 106, TC, phường XH, quận TK, TP Đà Nẵng.

Ngoài ra, địa chỉ nơi ở của bị đơn tại tổ 106, TC, phường XH, quận T cũng được ghi tại biên bản bàn giao kiêm phụ lục hợp đồng ngày 08/01/2018; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới ngày 02/01/2018, giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy đăng ký kết hôn.

Như vậy, đơn khởi kiện của nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong “Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô” số 34/2018/HĐTD/TTB MT/01 ngày 08/01/2018 là đảm bảo đúng quy định tại đoạn 1 điểm e, khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 và điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017.

Đoạn 1 điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định:

“Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”..

Điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 của HĐTP TAND Tối cao quy định:

2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Đối chiếu với các quy định đã viện dẫn trên thì trường hợp của ông Đ, bà T thay đổi địa chỉ nhưng không báo cho ngân hàng nơi cư trú mới thì được xem là đã cố tính dấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận T lại dựa vào biên bản xác minh tại công an phường HK và phường XH, quận T về việc ông Đ, bà T  trước đây có đăng ký thường trú tại K27/08 LĐ, phường XH hiện nay không còn sinh sống tại địa chỉ này; còn tại địa chỉ K123/45 Cù Chính Lan, tổ 18 (cũ), 33 mới, phường H K  không có ai tên là Trần Duy Đ, Phan Thị T, theo đó cứ điểm h, khoản 1 Điều 217 BLTTDS, điểm c, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 của HĐTP TAND Tối cao để nhận định nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn và đình chỉ giải quyết vụ án là vi phạm các quy định đã viện dẫn trên. Vì vậy VKSND Thành phố Đà Nẵng đã ban hành kiến nghị để rút kinh nghiệm đối với TAND quận T./.

 Lương Thị Chung –P9