menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Ngũ hành Sơn - Khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đăng ngày 05-03-2020 07:43

Công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09 là khâu công tác mới nhưng rất quan trọng vì việc quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp này có liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.

Do vậy, trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát, mỗi cán bộ, Kiểm sát viên phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực nghiên cứu nắm chắc các quy định pháp luật có liên quan; nghiên cứu, nắm chắc hồ sơ vụ việc, đánh giá tài liệu, chứng cứ một cách khách quan, thận trọng, thực hiện tốt quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKS nhằm bảo đảm các trường hợp Tòa án giải quyết có căn cứ, đúng pháp luật.Tuy nhiên, sau hơn 05 năm thực hiện, vẫn còn một số bất cập, gây khó khăn cho quá trình thực hiện công tác kiểm sát. Cụ thể:

Thứ nhất: Công tác phối hợp giữa TAND quyết định việc áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và TAND quyết định việc tạm đình chỉ, hoãn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chưa được thực hiện. Cụ thể: TAND ra Quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị, trong thời hạn cháp hành quyết định hành chính, người bị áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tạm đình chỉ, hoãn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định BPXLHC không được thông báo, không được nhận quyết định nêu trên. Đồng thời Luật Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh 09 không quy định cơ quan tiến hành thủ tục lập hồ sơ bắt buộc phải thu thập các quyết định hoãn, miễn giảm, đã chấp hành xong quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó dẫn đến tình trạng TAND nơi ra quyết định áp dụng BPXLHC bị thụ động, khó khăn trong trường hợp người bị áp dụng BPXLHC tiếp tục vi phạm, tiếp tục bị lập hồ sơ đề nghị nhưng Tòa án không biết quyết định trước đã được người bị áp dụng chấp hành xong hay chưa, trong thời gian bao lâu dẫn đến việc kiểm tra, xét xét tính pháp lý của hồ sơ đề nghị không được đảm bảo, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho người bị áp dụng không được chính xác.

Thứ hai: Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh 09 quy định, thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết đinhh áp dụng BPXLHC khi có một trong các căn cứ: “… khi phát sinh tình tiết mới về tình trạng sức khỏe, tâm thần của người bị đề nghị và cần yêu cầu cơ quan đề nghị tiến hành trưng cầu giám định”. Tuy nhiên, việc cơ quan nào ra quyết định trưng cầu giám định, trình tự, thủ tục thực hiện việc giám định như thế nào, chi phí trưng cầu giám định… lại chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể. Dẫn đến việc khó khăn, lúng túng của các cơ quan chức năng khi giải quyết các trường hợp người bị đề nghị áp dụng có dấu hiệu tâm thần, ảo giác do sử dụng trái phép chất ma túy.

Thực tế, một số trường hợp người bị đề nghị áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong giai đoạn làm thủ tục lập hồ sơ người bị đề nghị được giao cho gia đình quản lý, đến giai đoạn chuẩn bị mở phiên họp xét cai nghiện thì người nhà của người bị đề nghị cung cấp giấy tờ, tài liệu thể hiện người bị đề nghị đang điều trị tại bệnh viện tâm thần với dấu hiệu ảo giác do sử dụng trái phép chất ma túy. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ. Do không có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với người bị đề nghị, nên giao người bị đề nghị cho gia đình, bệnh viện chăm sóc. Sau thời gian điều trị tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng, qua xác minh tình trạng bệnh của người bị nghị đã được xuất viện, Thẩm phán tiếp tục mở phiên họp xét và quyết định áp dụng BPXLHC đối với người bị đề nghị.

Thứ ba: Đối với các trường hợp người bị đề nghị áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ được đưa vào trung tâm cai nghiện thì sau khi có quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, người bị áp dụng BLXLHC cai nghiện bắt buộc chấp hành quyết định tại trung tâm cai nghiện bắt buộc ngay. Tuy nhiên, đối với người bị đề nghị có nơi cư trú ổn định, có đại diện gia đình bảo lãnh, cam kết quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị thì người bị đề nghị được giao cho gia đình quản lý. Sau khi Tòa án quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quyết định được giao cho cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thi hành. Tuy nhiên, việc cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thi hành quyết định của Tòa án như thế nào, người bị áp dụng có chấp hành quyết định của Tòa án hay không, trường hợp người bị áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không chấp hành thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thi hành có tổ chức cưỡng chế việc chấp hành quyết định XPVPHC hay không thì pháp luật lại không có quy định. Do đó, trường hợp như trên bị bỏ ngỏ, không có cơ quan, tổ chức nào kiểm sát việc thi hành, chấp hành quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện của Tòa án nhân dân trong trường hợp này.

Thứ tư: Theo quy định tại Điều 7 của Nghị quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC quy định: “Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính”. Như vậy, khi tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính (phát biểu về đường lối giải quyết). Để có thể phát biểu ý kiến cả về tố tụng và nội dung như nêu trên, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu lập hồ sơ kiểm sát đầy đủ, đúng quy định của VKSND Tối cao, nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm giải quyết vụ việc với lãnh đạo Viện bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật. Nhưng tại khoản 3 của Pháp lệnh số 09 quy định “Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó”. Từ quy định trên, Viện kiểm sát luôn phải “chạy theo” Tòa án để được tiếp cận nghiên cứu hồ sơ vụ việc, đây là quy định chưa phù hợp với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi lẽ Viện kiểm sát là cơ quan có quyền và nghĩa vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC của Tòa án, được thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

Mặt khác, Pháp lệnh số 09 quy định Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án nhưng để nghiên cứu được đầy đủ hồ sơ, đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc đòi hỏi phải có thời gian và phải được bảo đảm những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất cho Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ như phòng làm việc, bàn ghế… Vì thế, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết vụ việc phải trực tiếp làm việc với Thẩm phán “mượn hồ sơ” về phô tô nghiên cứu, đề xuất quan điểm với lãnh đạo Viện. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thứ năm: Về thẩm quyền kháng nghị, tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh số 09 quy định:“Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật”. Pháp lệnh số 09 chỉ quy định thẩm quyền kháng nghị của VKS cùng cấp (cấp huyện) mà không quy định thẩm quyền xem xét kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp. Đây là hạn chế, bất cập của Pháp lệnh số 09, bởi lẽ, Pháp lệnh giao cho Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhưng về thẩm quyền kháng nghị thì chỉ Viện kiểm sát cùng cấp mới có quyền kháng nghị, thời hạn xem xét kháng nghị cũng chỉ có 03 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, còn Viện kiểm sát cấp trên không có thẩm quyền kháng nghị.

Ngoài ra, Pháp lệnh số 09 không quy định trình tự, thủ tục TAND cấp trên (cấp tỉnh) xem xét việc khiếu nại quá hạn đã gây khó khăn, lúng túng cho Tòa án, VKS trong việc xử lý đơn khiếu nại quá hạn của đương sự. Để khắc phục bất cập này, Tòa án buộc phải áp dụng nguyên tắc tương tự pháp luật, vận dụng những quy định về mở phiên họp xét kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để giải quyết nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự.

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc trong công tác Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng Biện pháp xử lý Hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cần được tổng hợp, nghiên cứu để có giải pháp, hướng dẫn, khắc phục, hướng tới hoàn thiện pháp luật về Xử lý vi phạm hành chính, đáp ứng yêu cầu của quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

Thúy Liên – VKSND quận Ngũ Hành Sơn