menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
Đăng ngày 08-04-2020 15:35

Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2018, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.

Luật này có 10 chương 96 điều, trong đó Luật dành 01 chương II, có đến 46 điều – chiếm gần một nửa số điều luật của Luật này quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định các biện pháp cơ quan, tổ chức, đơn vị cần phải thực hiện để phòng ngừa tham nhũng

1. Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Luật này quy định các nội dung cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai minh bạch:

- Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức; người lao động; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và công dân;

- Việc bố trí, quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công hoặc kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác;

- Công tác tổ chức cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn;

- Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này mà theo quy định của pháp luật phải công khai, minh bạch.

2. Xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Khoản 4, Điều 25 của Luật này quy định: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định chi tiết vị trí công tác phải chuyển đổi và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với người có chức vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa có hướng dẫn đối với điều luật này.

5. Cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Khoản 7 Điều 30 quy định: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước.

Tại Viện kiểm sát nhân dân các cấp, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập lần đầu và kê khai bổ sung là toàn bộ cán bộ, công chức; việc kê khai hàng năm hiện nay chưa có hướng dẫn của Viện KSND tối cao.

Việt Hồng, Thanh tra - Khiếu tố