menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Phòng 9 – VKSND thành phố Đà Nẵng xây dựng Chương trình thực hiện Kế hoạch số 37/KH-VKSTC ngày 28/2/2020 của VKSND Tối cao
Đăng ngày 15-04-2020 09:50

Để thực hiện tốt Kế hoạch số 37/KH-VKSTC ngày 28/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Tối cao và Kế hoạch số 201/KH-VKS ngày 30/3/2020 của VKSND TP Đà Nẵng, Phòng kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Phòng 9) đã kịp thời quán triệt nội dung các Kế hoạch này đến toàn thể Kiểm sát viên, Chuyên viên trong đơn vị, xây dựng Chương trình thực hiện theo đúng những nội dung mà Kế hoạch số 37 của VKSND Tối cao và Kế hoạch số 201 của VKSND TP Đà Nẵng đã chỉ ra.

* Những nhiệm vụ trọng tâm:

Thứ nhất, thực hiện hiệu quả các Chỉ thị về công tác kháng nghị phúc thẩm:

Phòng 9  tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm những Chỉ thị của Viện trưởng VKSND Tối cao và hướng dẫn, chỉ đạo của VKSND TP Đà Nẵng trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng.

Tiến hành triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát; xem đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Theo đó, phải kiểm sát chặt chẽ các thủ tục tố tụng dân sự, việc áp dụng pháp luật của Tòa án, nâng cao chất lượng việc thực hiện quyền yêu cầu; kịp thời phát hiện những vi phạm của Tòa án để tăng cường kháng nghị phúc thẩm ngang cấp; Phòng 9 có trách nhiệm bảo vệ kháng nghị; trường hợp kháng nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nhưng không được Tòa án chấp nhận thì báo cáo đề nghị để Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm). Kháng nghị không được Tòa án xử chấp nhận hoặc kháng nghị phúc thẩm của cấp huyện không có căn cứ bị VKSND thành phố rút thì phải kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm.

Thứ hai, đổi mới công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự:

Để hoàn thành và vượt chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Nghị quyết số 96/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội liên quan đến công tác tư pháp, Phòng 9 chú trọng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; chỉ đạo Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để kiểm sát chặt chẽ các thủ tục tố tụng dân sự; thực hiện tốt quyền yêu cầu, kiên quyết thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị đối với những vi phạm pháp luật. Phát hiện kịp thời, đầy đủ những vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm, nhất là kháng nghị phúc thẩm ngang cấp; chú trọng kiểm sát đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật để đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; các đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm gửi đến đơn vị  phải được giải quyết nhanh chóng. Tiếp tục tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự.

Thứ ba, tăng cường công tác tham mưu cho Lãnh đạo Viện trong chỉ đạo khâu công tác kiểm sát giải quyết án dân sự:

Phòng 9 tăng cường tham mưu cho Lãnh đạo Viện KSND TP Đà Nẵng thực hiện triển khai Quy định của Ngành về hướng dẫn hoạt động của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình; trao đổi, bổ sung, hướng dẫn một số biện pháp nhận diện vi phạm trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án để nâng số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm, nhất là kháng nghị phúc thẩm ngang cấp theo Hướng dẫn số 33/HD-VKSTC ngày 18/10/2019 của VKSND Tối cao.

Tham mưu cho Lãnh đạo VKSND thành phố phụ trách trong chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các VKSND quận, huyện về việc kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp nhằm phát hiện kịp thời, chính xác vi phạm pháp luật hoặc tình tiết mới làm căn cứ kháng nghị phúc thẩm và báo cáo đề nghị kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thứ tư, nâng cao trách nhiệm của Lãnh đạo Phòng, đặc biệt là Trưởng Phòng trong kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự:

Tập thể Lãnh đạo Phòng, đặc biệt là Trưởng Phòng chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất bổ sung các chỉ tiêu nghiệp vụ nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm của Lãnh đạo, Kiểm sát viên, Chuyên viên; phân công Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, tạm đình chỉ, hoãn, tạm ngừng việc giải quyết, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát biên bản phiên tòa với nội dung bản án, quyết định; kiên quyết thực hiện việc kháng nghị đối với vi phạm pháp luật; khắc phục tình trạng Viện kiểm sát chưa phát hiện được đầy đủ các vi phạm pháp luật và việc ban hành kiến nghị, kháng nghị còn hạn chế so với tỷ lệ án bị tuyên hủy, sửa do vi phạm.

Trưởng phòng có trách nhiệm quán triệt thực hiện nghiêm các chỉ đạo, hướng dẫn của VKSND Tối cao về công tác này; chịu trách nhiệm tham mưu giúp Lãnh đạo VKSND thành phố trong việc triển khai, hướng dẫn thực hiện các quy chế, quy định, quy trình và các văn bản khác theo chỉ đạo, hướng dẫn của VKSND Tối cao; tổ chức thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong các lĩnh vực công tác này. Phải đặc biệt quan tâm chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng VKSND thành phố về chỉ tiêu không đạt theo yêu cầu của Quốc hội.

Thứ năm, tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ:

Toàn thể Kiểm sát viên, Chuyên viên trong đơn vị tăng cường phòng, chống tham nhũng; phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực, tham nhũng và lãng phí tài sản công trong nội bộ Ngành. Trưởng Phòng chịu trách nhiệm quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 02/CT-VKSTC ngày 22/3/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng trong ngành KSND.

* Để thực hiện được những nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, các giải pháp được đưa ra:

Một là, về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành: phân công Kiểm sát viên tham gia 100% phiên tòa, phiên họp theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những vụ, việc phức tạp phải phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm giải quyết và Kiểm sát viên dự khuyết tham gia; bố trí Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, có tính kế thừa và ổn định; chú trọng công tác tự đào tạo tại đơn vị, lãnh đạo Phòng trực tiếp hoặc phân công Kiểm sát viên có kinh nghiệm, chuyên sâu về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự hướng dẫn Chuyên viên hoặc các công chức mới được tuyển dụng, Lãnh đạo Phòng thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, trao đổi, học tập rút kinh nghiệm qua các vụ việc dân sự phức tạp cụ thể nhằm nâng cao tính đoàn kết nội bộ, phát huy trí tuệ tập thể và các Kiểm sát viên, Chuyên viên cần phải tự học và trau dồi kiến thức để phục vụ cho công tác nghiệp vụ.

Hai là, tiến hành kiểm sát 100% bản án, quyết định giải quyết vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án: thực hiện đúng Quy trình, kỹ năng kiểm sát bn án, quyết định gii quyết vụ án dân sự của Tòa án” (Ban hành kèm theo Quyết định số 399/QĐ-VKSTC ngày 06/9/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao); kiểm sát chặt chẽ 100% các bản án, quyết định của Tòa án, lập phiếu kiểm sát bản án, quyết định giải quyết của Tòa án; Viện kiểm sát cấp dưới phải sao gửi ngay bản án, quyết định kèm theo Phiếu kiểm sát bản án, quyết định, thông báo việc kháng cáo (nếu có) cho Viện kiểm sát cấp trên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo thẩm quyền. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát hai cấp phải sao gửi bản án, quyết định kèm theo phiếu kiểm sát bản án, quyết định đó cho Viện kiểm sát cấp cao II.

Ba là, thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chú trọng nâng cao tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát ngang cấp: tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án, quyết định bị cấp phúc thẩm xét xử sửa, hủy có trách nhiệm của Viện kiểm sát nhưng không được phát hiện để thực hiện quyền kháng nghị. Phấn đấu ban hành kháng nghị phúc thẩm ngang cấp năm sau phải tăng so với năm trước.

Trường hợp không còn thời hạn để xem xét, kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm thì phải kịp thời báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để tiếp tục xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, kèm theo hồ sơ kiểm sát và hồ sơ chính (nếu có).

Phòng 9 phấn đấu tỷ lệ các kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 70%; Hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án, quyết định bị huỷ, sửa có lỗi của Viện kiểm sát nhưng không phát hiện để kháng nghị.

Bốn là, tiếp tục nâng cao số lượng, chất lượng kiến nghị, đặc biệt là kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật: Phòng 9 – VKSND TP Đà Nẵng tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kiến nghị đảm bảo đạt và vượt tỷ lệ kiến nghị được chấp nhận theo Nghị quyết của Quốc hội. Đồng thời trách nhiệm nghiên cứu, phát hiện, tổng hợp những vi phạm pháp luật của Tòa án để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Chú trọng phát hiện những vi phạm của các cơ quan, tổ chức khác, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, trong đó tập trung vào công tác lập hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; việc lưu trữ... để kiến nghị đối với các cơ quan tổ chức đó thực hiện các biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật. Thực hiện tốt việc quản lý, báo cáo, đánh giá chất lượng kiến nghị để phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội tại các kỳ họp. Phòng 9 phấn đấu phát hiện, tập hợp vi phạm của Toà án và các cơ quan hữu quan để ban hành ít nhất 04 kiến nghị/năm. Tăng cường kiến nghị tổng hợp, kiên quyết kiến nghị khi đã phát hiện những vi phạm pháp pháp luật (những vi phạm chưa đến mức phải kháng nghị). Nâng cao số lượng, chất lượng, hiệu quả các kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật. Tỷ lệ các kiến nghị được các cơ quan, đơn vị hữu quan chấp nhận đạt trên 80%.

Năm là, tăng cường công tác phối hợp: tích cực phối hợp với các đơn vị và cơ quan hữu quan tại địa phương thực hiện  góp ý các dự án luật và văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các đạo luật về tư pháp; chủ động rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành đầy đủ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội về công tác tư pháp theo nhiệm vụ được giao, bảo đảm các quy định được kịp thời, thống nhất.

Bên cạnh đó, trong Chương trình thực hiện Kế hoạch số 37 của VKSND Tối cao, Phòng 9 còn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Lãnh đạo Phòng, Kiểm sát viên, Chuyên viên, căn cứ vào đó để đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng Kiểm sát viên, Chuyên viên trong đơn vị.

Đồng thời căn cứ vào Chương trình công tác này; Phòng 9 sẽ báo cáo kết quả thực hiện tại các hội nghị giao ban, trong các báo cáo sơ kết, tổng kết và báo cáo phục vụ xây dựng báo cáo công tác của Viện trưởng VKSND tối cao trước Quốc hội, gửi đến Văn phòng tổng hợp để theo dõi, tổng hợp theo đúng yêu cầu tại Kế hoạch số 201/KH-VKS ngày 30/3/2020 của VKSND TP Đà Nẵng.

Bùi Thị Hiền – Phòng 9