menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
TÒA ÁN CHẤP NHẬN KHÁNG NGHỊ, HỦY QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM VỀ “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG”
Đăng ngày 29-04-2020 10:30

Ngày 23/4/2020, TAND TP Đà Nẵng mở phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định đình chỉ vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M. Địa chỉ:  quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng và bị đơn: Ngân hàng TMCP X. Địa chỉ chi nhánh Đà Nẵng: quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng do có kháng cáo của nguyên đơn , kháng nghị của VKSND quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

Nội dung vụ án:

Giữa bà Nguyễn Thị M và Ngân hàng TMCP X tồn tại 02 hợp đồng tín dụng hạn mức và 05 hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ, cụ thể:

  1. Hợp đồng số 1002-LAV-201200672: đã được giải ngân theo 03 hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ gồm:

+ Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201202520 ngày 22/6/2012 với số tiền là 350.000.000đ, hình thức: chuyển khoản trực tiếp cho Công ty TNHH V theo ủy nhiệm chi ngày 22/6/2012 của bà M với nội dung: thanh toán tiền mua bia;

+ Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201203620 ngày 07/9/2012 với số tiền là 350.000.000đ, hình thức: chuyển khoản cho bà Nguyễn Thị Thu D (tuy nhiên hợp đồng này được tất toán vào ngày 05/02/2013 và bà M  không khởi kiện đối với hợp đồng này).

+ Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201300587 ngày 06/02/2013 với số tiền là 350.000.000đ, hình thức: chuyển khoản cho bà Trần Thị L theo ủy nhiệm chi ngày 06/02/2013 của bà M với nội dung: thanh toán tiền mua hàng.

  1. Hợp đồng tín dụng từng lần số 1002-LAV-201201001: Ngân hàng đã giải ngân cho bà M  theo 02 hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ gồm:

+ Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201203852 ngày 24/9/2012 với số tiền 280.000.000đ, hình thức: chuyển khoản cho bà Đặng Thị Kiều L số tiền 200.000.000 theo ủy nhiệm chi ngày 24/9/2012 của bà M với nội dung: thanh toán tiền mua vật tư, còn lại 80.000.000đ, bà M đã lĩnh tiền mặt;

+ Hợp đồng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201204326 ngày 24/10/2012, số tiền 220.000.000đ, hình thức: chuyển khoản cho bà Đặng Thị Kiều L theo ủy nhiệm chi ngày 24.10.2012 của bà M với nội dung: thanh toán tiền mua gạch.

Bà M cho rằng Ngân hàng X có dấu hiệu lừa dối khách hàng, các hợp đồng nêu trên, bà chỉ ký vào trang giấy sau của hợp đồng. Theo đó, Ngân hàng đã thực hiện việc chuyển tiền trái phép, trái với ý chí của bà với số tiền tổng cộng là 1.200.000.000đ, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Vì vậy, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng tín dụng vô hiệu.

Với nội dung vụ án như trên, tại quyết định số 78/2019/QĐST-DS  ngày 12/12/2019, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng nhận định:

“… Các hợp đồng tín dụng và các ủy nhiệm chi cho người thứ ba thụ hưởng, bà Nguyễn Thị M  xác nhận đều do bà ký và ghi rõ họ tên vào mục khách hàng/ chủ tài khoản nhưng cho rằng chỉ ký mà không biết ký nội dung gì. Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng và các ủy nhiệm chi bà Mười có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao dịch cho vay giữa Ngân hàng X và bà Nguyễn Thị M phát sinh đầu tiên vào ngày 22/6/2012, sau cùng là ngày 06/02/2013 và các món nợ vay này đều đã được tất toán. Bà Mười đã trả hết nợ tất toán món vay đầu tiên vào ngày 02/8/2012, món vay cuối cùng đã trả tất toán vào ngày 30/7/2015 điều này nghĩa là, các hợp đồng vay đã thực hiện xong, các bên đã hoàn thành xong các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận.

Theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 688 điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015 thì: Nếu giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày 01/01/2017 mà có tranh chấp thì áp dụng BLDS năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS năm 2005 để giải quyết.

Tại Điều 132, Điều 136 của BLDS năm 2005 có quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Căn cứ quy định này thì kể từ ngày được xác lập chứ không phải từ ngày biết, phát hiện ra mình bị gian dối. Như vậy, các hợp đồng tín dụng giữa bà Nguyễn Thị M  với Ngân hàng X được xác lập lần tiên vào ngày 22/6/2012, sau cùng là ngày 06/02/2013 đến thời điểm bà M  khởi kiện là ngày 14/10/2015 là quá hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập nên thời hiệu khởi kiện không còn.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là Ngân hàng X yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu. Hội đồng xét xử xét thấy đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết nên căn cứ điểm e, khoản 1  Điều 217 BLTTDS năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án…”.

Theo đó, TAND quận Hải Châu đã quyết định:

“1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 288/2015/TLST-DS ngày 23/12/2015 về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu..:

2. Hậu quả của việc đình chỉ:

- Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M  số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo Biên lai số 004999 ngày 23.12.2015 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.”

Ngoài ra, quyết định còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/12/2019, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M  kháng cáo toàn bộ quyết định đình chỉ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại Quyết định đình chỉ nêu trên.

Ngày 18/12/2019, VKSND quận Hải Châu ban hành quyết định số 02/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên theo hướng hủy quyết định đình chỉ để thụ lý, giải quyết lại do căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án của TAND quận Hải Châu không đúng.

Tại phiên họp phúc thẩm, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng đã phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị như sau:

TAND quận Hải Châu xác định bà Mười khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa. Trên cơ sở đó, Tòa án đã nhận định và cho rằng các hợp đồng tín dụng giữa bà Nguyễn Thị M với Ngân hàng X đều được ký vào năm 2012 nhưng đến năm 2015, nguyên đơn mới khởi kiện nên đã hết thời hiệu theo quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các Điều 130 đến 134 của Bộ luật  này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập”, trong đó Điều 132 BLDS quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa. Theo đó, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án là không chính xác, bỡi lẽ:

Trong đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn cũng như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đều xác nhận đề nghị Tòa án tuyên bố các hợp đồng tín dụng mà nguyên đơn ký kết với Ngân hàng X vô hiệu do giả tạo và thực tế, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký tại bảng kê và phiếu chi tiền mặt 80 triệu đồng theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002 – LDS2012 ngày 24/9/2012 vì cho rằng đây không phải là chữ ký của nguyên đơn, và chữ ký tại các hợp đồng còn lại nguyên đơn thừa nhận có ký nhưng chỉ để bổ sung chứng từ cho Ngân hàng. Như vậy, bản chất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đề nghị Tòa án tuyên bố các hợp đồng tín dụng mà nguyên đơn đã ký với Ngân hàng X (02 hợp đồng tín dụng hạn mức số 1002-LAV-201200672; số 1002-LAV-201201001 và 04 hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1002-LDS-201202520; số 1002-LDS-201300587; số 1002-LDS-201203852; số 1002-LDS-201204326) là vô hiệu do giả tạo. Theo quy định tại  Điều 136 BLDS năm 2005 thì: “Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế”, trong đó Điều 129 là điều luật quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, do đó thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo sẽ không bị hạn chế.

 Như vậy, theo phân tích và quy định của điều luật đã viện dẫn trên thì yêu cầu của nguyên đơn tuyên bố các hợp đồng tín dụng vô hiệu do bị lừa dối, giả tạo nhưng Tòa án nhận định cho rằng yêu cầu này đã hết thời hiệu khởi kiện và chấp nhận việc bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, theo đó Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, nội dung kháng nghị của VKSND quận Hải Châu là có căn cứ chấp nhận.

Hội đồng phúc thẩm thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng: căn cứ điểm c, khoản 5 Điều 314 BLTTDS năm 2015 chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu,  hủy quyết định đình chỉ số 78/2019/QĐST-DS  ngày 12/12/2019, Tòa án nhân dân quận Hải Châu và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Nguyễn Thị Trâm – Phòng 9