menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Phòng 9 – VKSND TP Đà Nẵng tiến hành sơ kết 05 năm thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Đăng ngày 22-06-2020 10:45

Trên cơ sở Kế hoạch số 43/KH-VKSTC ngày 12/2/2020 của VKSND Tối cao về việc sơ kết 05 năm thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 và yêu cầu của Văn phòng tổng hợp, Phòng Tổ chức cán bộ - VKSND TP Đà Nẵng, Phòng 9 - VKSND TP Đà Nẵng đã tiến hành triển khai thực hiện sơ kết 05 năm thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 tại đơn vị.

Ngay khi Luật tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực thi hành, công tác quán triệt, triển khai thi hành đã được Lãnh đạo đơn vị chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ (thông qua các hội nghị triển khai thi hành Luật của toàn ngành, của VKSND TP Đà Nẵng và tại các cuộc họp đơn vị định kỳ). Qua đó, Kiểm sát viên, Chuyên viên trong đơn vị cũng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu, triển khai thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014, đặc biệt là trong khâu công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự là hết sức cần thiết. Quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết các vụ, việc dân sự đã phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động Tòa án, ban hành kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục kịp thời nhằm đảm bảo các vụ, việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật, góp phần nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát.

Theo quy định tại Điều 27 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì khi kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, VKSND có 08 nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc.

3. Thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định.

4. Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật.

5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.

6. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

7. Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.

8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân.

* Thực tiễn thi hành các quy định về kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình:

Trong thời gian từ ngày 01/6/2015 đến ngày 01/6/2020, Phòng 9 – VKSND TP Đà Nẵng đã thụ lý kiểm sát việc TAND TP Đà Nẵng trả lại 29 đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tham gia 05 phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện; thụ lý kiểm sát tổng 1.203 vụ, việc các loại theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm (trong đó sơ thẩm: 636 vụ, việc; phúc thẩm: 567 vụ, việc); kiểm sát việc giải quyết của Tòa án tổng số 1.144 vụ việc (trong đó sơ thẩm là 579 vụ, việc; phúc thẩm: 565 vụ, việc); tham gia tổng số 756 phiên tòa, phiên họp, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, của người tham gia tố tụng và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đầy đủ. Sau xét xử, Phòng đã phân công Kiểm sát viên kiểm sát, lập phiếu kiểm sát 100% các bản án, quyết định do TAND TP Đà Nẵng và bản án, quyết định do cấp quận, huyện chuyển đến. Trên cơ sở đó, Phòng đã phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án hai cấp, tham mưu Lãnh đạo Viện ban hành tổng cộng 29 quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, bảo vệ thành công các kháng nghị này, 100% kháng nghị được VKSND cấp trên bảo vệ; 94% kháng nghị được Tòa án chấp nhận; báo cáo đề nghị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 05 vụ, được VKSND cấp cao chấp nhận ban hành kháng nghị; báo cáo đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 04 vụ, đã được VKSND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị 03 vụ; ban hành 25 kiến nghị đối với các vi phạm của Tòa án, được Tòa án chấp nhận, khắc phục và rút kinh nghiệm.

Trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án hai cấp và kiểm sát xét xử, nhận thấy các vi phạm của Tòa án hai cấp chủ yếu như: đưa thiếu người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; xác minh, thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện, vi phạm trong việc giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự; không giám định thiệt hại để làm căn cứ bồi thường; áp dụng pháp luật dân sự cũ (2005) và mới 2015 không đúng theo điều khoản chuyển tiếp; trưng cầu giám định tổ chức, cá nhân không đủ thẩm quyền; xác định không đúng yêu cầu phản tố, không đúng người đại diện, người giám hộ, xác định không đúng quan hệ pháp luật; vi phạm trong việc tính tạm ứng án phí, án phí; vi phạm về việc tính lãi suất trong các vụ án tranh chấp đòi tiền, vay tài sản; vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật nội dụng để giải quyết các vụ, việc dân sự… VKS hai cấp đã ban hành kháng nghị phúc thẩm đề nghị sửa, huỷ án sơ thẩm nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật được nghiêm chỉnh, thống nhất.

Đối với những vi phạm như: vi phạm thời hạn gửi thông báo thụ lý, gửi bản án, quyết định; vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn hoãn phiên toà; cấp tống đạt văn bản tố tụng không đúng quy định tại Điều 175 BLTTDS; vi phạm trong việc đăng thông báo tìm kiếm người mất tích (theo khoản 1 Điều 385 BLTTDS); vi phạm trong việc ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự không đúng theo quy định; ban hành bản án, quyết định không đúng quy định theo mẫu; ban hành các Quyết định đình chỉ một phần giải quyết vụ án không đúng quy định tại Điều 192 BLTTDS; không ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại bản án; áp dụng thiếu và sai căn cứ khi giải quyết vụ án; thu thập chứng cứ không đúng quy định; chuyển vụ án để giải quyết theo thẩm quyền không đúng quy định; trả đơn khởi kiện; thụ lý vụ án khi chưa đủ điều kiện khởi kiện; vi phạm quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; ngừng, hoãn phiên tòa... Đây là những vi phạm ít nghiêm trọng không cần thiết phải kháng nghị đã được Viện kiểm sát hai cấp kiến nghị Tòa án khắc phục, rút kinh nghiệm.        

Đặc biệc việc thực hiện chuyển giao hồ sơ theo yêu cầu của VKS để phục vụ công tác kháng nghị, kiến nghị của Toà án còn chậm trễ, không đảm bảo thời hạn nghiên cứu của VKS.

Đối với một số vi phạm khác của Tòa án như hình thức văn bản hay lỗi chính tả, sai ngày tháng, không chính xác họ tên đương sự, viện dẫn điều luật áp dụng thiếu, thiếu nội dung tuyên tại một số bản án, quyết định và các biên bản hoà giải, biên bản tại phiên tòa ảnh hưởng đến giá trị pháp lý và tính nghiêm túc của văn bản tố tụng, có những trường hợp ảnh hướng đến việc thi hành bản án…. Kiểm sát viên được phân công kiểm sát trực tiếp trao đổi hoặc kiến nghị tại phiên toà để Thẩm phán khắc phục.

Bên cạnh đó, Phòng 9 - VKSND TP Đà Nẵng còn thực hiện tốt quyền yêu cầu đối với Tòa án cùng cấp. Trong thời gian từ ngày 01/6/2015 đến ngày 01/6/2020, thông qua việc kiểm sát hồ sơ, kiểm sát xét xử, Kiểm sát viên đã đưa ra nhiều yêu cầu trực tiếp và yêu cầu bằng văn bản yêu cầu Thẩm phán xác minh, thu thập chứng cứ làm căn cứ để giải quyết vụ, việc; thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết án, trên cơ sở đó hạn chế được nhiều vi phạm xảy ra cũng như tình trạng án bị cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa do vi phạm giảm dần theo từng năm.

Ngoài việc thực hiện tốt công tác nghiệp vụ, Phòng 9  còn chú trọng công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm đối với những vụ án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa do vi phạm đến VKSND các quận, huyện; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu nghiệp vụ của cấp quận, trả lời thỉnh thỉnh thị, báo cáo đề nghị kháng nghị một cách đầy đủ, kịp thời. Trên cơ sở đó, chất lượng công tác kiểm sát tại các đơn vị quận, huyện cũng ngày một nâng cao.

* Thực tiễn thi hành các quy định về công tác khác:

- Về thực hiện nhiệm vụ thống kê trong toàn ngành: Phòng 9 đã thực hiện đầy đủ việc thống kê số liệu án thụ lý, giải quyết theo định kỳ và theo yêu cầu đột xuất của VKSND TP Đà Nẵng và yêu cầu của VKSND Tối cao.

- Về công tác nghiên cứu khoa học, hướng dẫn thi hành pháp luật: Tham gia góp ý vào các dự thảo Luật và và góp ý xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ theo yêu cầu.

- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng: đăng ký, tạo điều kiện để các Kiểm sát viên, Chuyên viên tham dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, bồi dưỡng chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm sát giải quyết án dân sự theo kế hoạch của VKSND Tối cao; tham dự đầy đủ các hội nghị tập huấn nghiệp vụ do VKSND Tối cao tổ chức… đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ thông qua việc phối hợp với Tòa án cùng cấp tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm; tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình kiểm sát; tổ chức và tham gia cuộc thi “Xây dựng bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, hành chính..”.

- Về công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật: thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho người dân thông qua các phiên tòa, phiên họp mà VKS tham gia.

* Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình, đơn vị nhận thấy còn một số hạn chế, tồn tại như sau:

- Tỷ lệ kháng nghị, kiến nghị so với những vi phạm của Tòa án còn hạn chế; chưa ban hành được kiến nghị đối với vi phạm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước tại địa phương.

- Việc phối hợp trong kiểm sát bản án, quyết định giữa VKSND hai cấp chưa thường xuyên, kịp thời: VKSND cấp dưới sao gửi bản án, quyết định của Toà án hoặc đề nghị kháng nghị cho VKSND cấp trên còn chậm trễ do đó khi phát hiện bản án sơ thẩm vi phạm thì đó hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

- Còn có những vi phạm của Tòa án chưa được phát hiện kịp thời dẫn đến còn tình trạng án hủy, sửa có trách nhiệm của Viện kiểm sát.

Do số lượng vụ, việc dân sự ngày một gia tăng, tính chất ngày càng phức tạp nhưng số lượng Kiểm sát viên, Kiểm tra viên còn thiếu, chuyên môn không đồng đều... Một bộ phận nhỏ công chức còn thiếu tinh thần, trách nhiệm với công việc; nghiên cứu bản án, quyết định cũng như hồ sơ chưa kỹ càng…

Hệ thống pháp luật liên quan trong lĩnh vực dân sự còn bộc lộ nhiều nhược điểm, còn có những quy định chồng chéo, quy định chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về một vấn đề, còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật nhưng chưa được hướng dẫn hoặc hướng dẫn không rõ ràng; có những quy định của pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chưa kịp sửa đổi, bổ sung…

Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế nêu trên, Phòng 9 đã đề ra giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế này đồng thời đề ra phương hướng, chương trình hành động cho việc thực hiện các chỉ tiêu nghiệp vụ theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng như quy định của pháp luật có liên quan cho thời gian sắp tới nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự.

                                                                        Bùi Thị Hiền – Phòng 9