menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Bàn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong trường hợp bị đơn đang chấp hành án phạt tù
Đăng ngày 25-11-2020 08:40

Cơ sở pháp lý cho việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ, việc dân sự theo lãnh thổ đã thạo thuận lợi cho việc khởi kiện, yêu cầu của đương sự cũng như việc thụ lý, giải quyết của Tòa án, thậm chí còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án về sau, giúp cho việc giải quyết vụ, việc dân sự được nhanh chóng, kịp thời.

Thực tiễn xét xử cho thấy, một số trường hợp sau khi Tòa án thụ lý vụ, việc dân sự mới phát hiện rằng vụ, việc đã thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình nên đã chuyển cho Tòa án địa phương khác thụ lý, giải quyết. Tuy nhiên, trong việc hiểu và áp dụng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng còn nhiều ý kiến trái chiều.

Ví dụ: Nguyễn Văn A khởi kiện yêu cầu Đỗ Quang B (địa chỉ thường trú tại tổ 35, phường H, quận C, thành phố Đ) trả số tiền 1,5 tỷ đồng mà B đã vay của A.

Sau khi thụ lý vụ án, qua xác minh, Tòa án nhân dân quận C xác định được hiện Đỗ Quang B đang chấp hành án phạt tù tại trại giam C, huyện P, tỉnh T với mức hình phạt 17 năm tù. Trên cơ sở đó, Tòa án nhân dân quận C đã căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án nêu trên đến Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền vì cho rằng: hiện Đỗ Quang B đang chấp hành án phạt tù 17 năm (thời gian thi hành án dài) nên coi trại giam C, huyện P, tỉnh T là nơi cư trú của bị đơn B và thẩm quyền giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn Nguyễn Văn A với bị đơn Đỗ Quang B thuộc Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T.

Với quyết định chuyển vụ án nêu trên của Tòa án nhân dân quận C, hiện có 02 quan điểm trái chiều như sau:

Quan điểm thứ nhất: việc Tòa án nhân dân quận C chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân huyện P để thụ lý, giải quyết vụ án là đúng bởi theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

“1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2, Điều 12 Luật cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 thì: “2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”. Theo quan điểm này thì do bị đơn B đang chấp hành án phạt tù với thời gian 17 năm tại trại giam C, nên trại giam C thuộc huyện P được coi là nơi mà bị đơn đang sinh sống, do đó, Tòa án nhân dân huyện P có thẩm quyền giải quyết vụ kiện này.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc Tòa án nhân dân quận C căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền đối với vụ án trên là không đúng vì trại giam C không phải là nơi bị đơn B sinh sống, đồng thời cũng không phải là nơi bị đơn B cư trú (thường trú hay tạm trú), làm việc.

Theo quan điểm của người viết thì cách hiểu và áp dụng quy định của pháp luật của quan điểm thứ hai phù hợp hơn quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, tổ 35, phường H, quận C, thành phố Đ, khi B vi phạm nghĩa vụ trả nợ, A đã khởi kiện tại Tòa án nơi B có hộ khẩu thường trú đúng theo hợp đồng vay (giữa A và B không có thỏa thuận nào khác về thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp xảy ra tranh chấp); mặt khác, trại giam C chỉ là nơi mà Đỗ Quang B chấp hành án phạt tù, không được hiểu là nơi mà bị đơn đang sinh sống, làm việc, cũng không phải là nơi bị đơn B thường trú hay tạm trú mà địa chỉ thường trú của bị đơn B vẫn được xác định là tổ 35, phường H, quận C, thành phố Đ. Do vậy, việc Tòa án nhân dân quận C căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền là không đúng.

Rất mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp về vấn đề này!

                                                             Nguyễn Thị Trâm – Phòng 9