menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Trao đổi nghiệp vụ về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án
Đăng ngày 26-11-2021 03:17

Việc xác định thẩm quyền trong giải quyết các tranh chấp dân sự là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án cũng như tính đúng đắn của bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có những quan điểm trái chiều trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án khi thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của đương sự giữa những người tiến hành tố tụng. Cùng một nội dung tranh chấp nhưng có quan điểm cho rằng đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, có quan điểm lại cho rằng tranh chấp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trong phạm vi bài viết này, người viết xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể cho việc còn có các quan điểm khác nhau trong việc xác định tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không.

Bà L.T.B và ông B.M.T là vợ chồng. Năm 2011, bà B và ông T cùng ký hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, theo đó bà B và ông T được quyền mua nhà, đất tại địa chỉ tổ 26, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng với số tiền 372.524.000đ; thời hạn trả trong 10 năm; bà B và ông T đã trả trước 74.524.000đ (20% giá trị tài sản), số tiền còn phải trả là 298.000.000đ.

Năm 2012 do mâu thuẫn nên bà B khởi kiện đề nghị ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn, bà B, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung mà tự lập bản cam kết về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng ngày 10/4/2012 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường). Theo cam kết thì bà B, ông T thống nhất xác định giá trị nhà đất nêu trên là 1.640.000.000đ, chia mỗi người 50% giá trị, giao bà B chịu trách nhiệm trả tiền còn nợ nhà nước là 298.000.000đ; bà B được quyền liên hệ cơ quan chức năng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đứng tên bà B, bà B có nghĩa vụ trích trả ông T 670.000.000đ. Ông T cam kết không khiếu nại bất cứ vấn đề gì về tài sản chung này nữa kể từ ngày ký cam kết.

Thực hiện cam kết, bà B đã thối trả 655.000.000đ cho ông T (bà B giữ lại 15.000.000đ vì cho rằng ông T phải có trách nhiệm cùng trả một số chi phí tố tụng trong vụ án ly hôn của bà và ông T).

Cũng thực hiện cam kết trên, từ năm 2012 đến năm 2019 bà B đã trả hết tiền còn nợ cho nhà nước nên ngày 30/7/2019, bà B và ông T đã ký biên bản thanh lý hợp đồng với cơ quan chức năng, đồng thời ông T cũng đồng ý để cơ quan chức năng giao hồ sơ để bà B liên hệ cấp sổ. Tuy nhiên, khi lập thủ tục để được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà B thì ông T không hợp tác, do đó bà B đã khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận bản cam kết ngày 10/4/2012, theo đó bà tiếp tục trả ông T số tiền còn thiếu theo cam kết. Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện của bà B.

Với yêu cầu khởi kiện này, hiện có 02 luồng quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất: Về bản chất, đây là “tranh chấp tài sản chung sau ly hôn” do đó, yêu cầu của bà B về việc công nhận bản cam kết ngày 10/4/2012 giữa bà B và ông T không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì vậy, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án và trả đơn khởi kiện cho bà B.

Quan điểm thứ hai: Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu “công nhận bản cam kết” của bà B là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Người viết thống nhất với quan điểm thứ hai, bởi lẽ: Bản cam kết ngày 10/4/2012 thực chất là bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (vì ngày 02/5/2012 bà B và ông T mới có quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự) gồm giá trị nhà xây từ năm 2000 và 74.524.000 đồng tiền hóa giá nhà đã nộp cho công ty quản lý nhà thành phố Đà Nẵng; đồng thời thỏa thuận về việc ai là người được quyền tiếp tục thực hiện hợp đồng mua nhà và được quyền đứng tên sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước. Quyền thỏa thuận chia tài sản chung của bà B, ông T ghi nhận trong bản cam kết ngày 10/4/2012 phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, tranh chấp này là “tranh chấp về việc thực hiện thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân” theo quy định tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (tương ứng với Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014), do đó, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Để làm rõ hơn các vấn đề về pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung nhằm giải quyết kịp thời tranh chấp của đương sự, bảo đảm tính đúng đắn, nghiêm minh của bản án, quyết định của Tòa án, người viết rất mong nhận được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp.

                                                                         Nguyễn Thị Trâm – Phòng 9