menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Một số dạng vi phạm của bản án, quyết định về dân sự
Đăng ngày 29-11-2022 07:13

Thông qua công tác kiểm sát Bản án, Quyết định của Tòa án trong giải quyết các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng nhận thấy Tòa án quận, huyện thường để xảy ra các dạng vi pham sau:

Thứ  nhất: Không thống nhất trong việc gửi các Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự.

Cụ thể: Cùng là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, có TA thì gửi Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp (ghi rõ tại phần: nơi nhận) nhưng có TA không gửi.

Thứ hai: Áp dụng thiếu điều luật.

Các quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình, Tòa án không áp dụng Điều 397 BLTTDS trong các Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự . Còn đối với các Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự  thì Tòa án không áp dụng Điều 212, Điều 213 BLTTDS trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình là áp dụng thiếu điều luật.

Thứ  ba:  Phần quyết định của bản án sơ thẩm không thể hiện đầy đủ các vấn đề được ghi nhận, phân tích, đánh giá trong phần nhận định:

Điển hình: Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 28/4/2020 của TAND quận KT  giải quyết vụ án “Tranh chấp chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, giữa nguyên đơn ông Lê Quang H, Lê Thị Thanh H, Lê Thị Thanh S, Lê Thị Thanh H với bị đơn ông Lê Quang H.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông H, bà H, bà S , những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: bà Lê Thị T, anh Lê Quang H, anh Lê Quang H, anh Lê Quang H, anh Lê Quang N, chị Lê Ngọc A, bà Phan Thị M, anh Lê Quang B, chị Lê Thị Thanh T và anh Lê Quang K tặng cho kỷ phần của mình cho bà H, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản theo quy định của pháp luật nhưng phần quyết định của bản án sơ thẩm không ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự nêu trên về việc tặng kỷ phần của mình cho bà H là vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 BLTTDS.

 Thứ tư:  Trong thời gian thành phố Đà Nẵng bị ảnh hưởng của dịch covid-19, một số vụ, việc dân sự hết thời gian chuẩn bị xét xử, chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nhưng Tòa án căn cứ lý do ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19 để ra quyết định  tạm đình chỉ giải quyết vụ, việc là không đúng. Vì ảnh hưởng của dịch bệnh là trở ngại khách quan nên Tòa án cấp sơ thẩm phải ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 203 BLTTDS và quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định tại đoạn 2 Điều 361 BLTTDS mới đúng.

Thứ năm: Chuyển vụ án theo thẩm quyền không đúng.

Đối với quan hệ tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, đồng thời cũng phát sinh từ hoạt động của Chi nhánh của Công ty thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Điểm b khoản 1 Điều 40 quy định: “Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết”. Điểm g khoản 1 Điều 40 quy định: ”Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết…”.

Một số vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay vốn” phát sinh từ hoạt động của chi nhánh có trụ sở tại TP Đà Nẵng, khi nguyên đơn khởi kiện đến các Tòa án nơi có địa chỉ của Chi nhánh, Tòa án thụ lý vụ án là đúng nhưng sau đó lại chuyển hồ sơ đến TA nơi có trụ sở chính của Công ty là không đúng như phân tích trên.

Trên đây là một số dạng vi phạm cơ bản của Tòa án  quận, huyện mà trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định, quá trình nghiên cứu hồ sơ, VKSND TP Đà Nẵng đã phát hiện, tổng hợp. Đây cũng là nguồn tài liệu để cán bộ kiểm sát viên làm công tác kiểm sát án dân sự tham khảo trong công tác nghiệp vụ.

Lương Thị Chung –P9