menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Kinh nghiệm rút ra từ 01 kháng nghị phúc thẩm
Đăng ngày 29-11-2022 07:12

Kháng nghị là một trong những quyền năng được pháp luật quy định cho VKSND, kháng nghị cần phải có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và mang tính thuyết phục. Dưới đây là một kháng nghị phúc thẩm chưa đúng nội dung, bản chất sự việc, không phù hợp với quy định của pháp luật.

Nội dung vụ án: Ngày 22/12/2019 vợ chồng ông ĐTC và bà NTL thỏa thuận với bà HTTH về việc chuyển nhượng thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, tại tổ 38 phường MA, quận N, TP ĐN, theo đó bên nhận chuyển nhượng là bà TTTH sẽ tự mình hoặc thành lập pháp nhân, chỉ định pháp nhân để nhận chuyển nhượng thửa đất nói trên với giá 35.650.400.000 đồng, bà HTTH đã đặt cọc cho  vợ chồng ông C, bà L 2.000.000.000 đồng.

Ngày 28/02/2020 vợ chồng ông ĐTC và bà NTL ký hợp đồng chuyển nhượng lô đất nêu trên cho Công ty TNHH đầu tư TM (gọi tắt công ty TM) - theo chỉ định của bà HTTN, tại hợp đồng công ty TM cam kết sẽ thanh toán số tiền nợ còn lại là 7.937.000.000 đồng vào ngày 09/3/2020.

Thực hiện hợp đồng vợ chồng ông C, bà L đã giao đất và giấy tờ đất cho công ty TM, tuy nhiên tính đến ngày 25/7/2020, Công ty TM vẫn còn nợ ông C, bà L số tiền 5.200.000.000 đồng, do đó cùng ngày 25/7/2020 Công ty TM sẽ thanh toán số tiền này vào ngày 30/9/2020; tuy nhiên đến hạn Công ty TM chỉ trả được 1.000.000.000 đồng, còn nợ lại 4.200.000.000 đồng. Sau nhiều lần đòi nhưng Công ty TM và bà H vẫn không thanh toán nên ông C, bà L khởi kiện xác định Công ty TM và bà H là bị đơn, theo đó yêu cầu Công ty TM và bà H liên đới trả cho cho ông bà số tiền 4.200.000.000 đồng còn thiếu và 2.000.000.000 đồng tiền phạt cọc theo thỏa thuận. Tổng cộng 6.200.000.000 đồng.

Công ty TM và bà H xác định còn nợ ông C, bà L số tiền 4.200.000.000 đồng theo hợp đồng, đồng thời không chấp nhận yêu cầu phạt cọc.

 Với nội dung vụ án như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử và quyết định: Buộc bà H và Công ty TM phải trả cho ông C, bà L 4.200.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà L về việc buộc bà H và Công ty TM phải trả số tiền phạt cọc 2.000.000.000 đồng.

Không đồng ý với Bản án sơ thẩm, ông C, bà L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn; VKS cấp sơ thẩm kháng nghị theo theo thủ tục phúc thẩm đối với Bán án sơ thẩm, kháng nghị nhận định: việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất chỉ được thực hiện giữa Công ty TM, tại hợp đồng không có điều khoản nào thể hiện trách nhiệm liên đới của bà H. Tại các bản cam kết trả nợ cũng chỉ ghi nhận trách nhiệm trả số tiền còn lại thuộc về Công ty TM nên Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà H liên đới cùng Công ty TM trả số tiền còn thiếu là không đúng thỏa thuận của các bên, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, theo đó buộc bà H cùng phải chịu án phí do yêu cầu của ông Đ, bà L được chấp nhận là không phù hợp. Kháng nghị phúc thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không buộc bà H phải liên đới trả nợ cùng Công ty TM.

Với nội dung và lập luận nêu trên cho thấy Kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp sơ thẩm đánh giá không toàn diện chứng cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật bởi: xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án và theo trình bày của bà H tại phiên tòa sơ thẩm  bà H và đại diện Công ty TM là ông NHGA (con bà H) đều thừa nhận Công ty TM và bà H còn nợ ông C, bà L số tiền 4.200.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trách nhiệm cùng trả của các bị đơn, bị đơn chỉ không đồng ý yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn mà thôi. Mặt khác sau khi xét xử sơ thẩm bà H cũng không kháng cáo đối với  nội dung Tòa án sơ thẩm tuyên buộc bà có nghĩa vụ liên đới cùng trả nợ với Công ty TM.

Hơn nữa, Bản thỏa thuận “về phương thức thực hiện chuyển nhượng bất động sản” ngày 22/12/2019 giữa ông Đ, bà L và bà H thể hiện:

Điều 5 “Cách thức mua bán, chuyển nhượng và thanh toán

5.2. Bên mua và doanh nghiệp do bên mua thành lập hoặc thành lập mới chịu trách nhiệm liên đới đối với việc kê khai, nộp thuế… thay cho bên bán

Điều 7: “Quyền và nghĩa vụ của bên mua

7.2. Nghĩa vụ của bên mua: giao tiền đặt cọc và thanh toán tiến chuyển nhượng cho bên bán đúng quy định tại hợp đồng này”

Điều 11: Thông báo

“ Mọi thư từ, giao dịch đến bên mua gửi đến bà Hoàng Thị H…”

Như vậy mặc dù ông C, bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Công ty TM nhưng thực chất là để thực hiện thỏa thuận ngày 22/12/2019 giữa ông C, bà L với bà H. Việc này phù hợp với trình bày về trách nhiệm liên đới trả nợ của bị đơn, đồng thời cũng là cơ sở để xác định nghĩa vụ liên đới giữa bà H và Công ty TM.

Từ kháng nghị phúc thẩm nêu trên của VKS cấp sơ thẩm, bài học được rút ra là:

Thứ nhất: Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia xét xử và thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật, ngoài việc kiểm sát về thủ tục tố tụng KSV cần phải nghiên cứu kỹ, tổng hợp, phân tích đánh giá toàn diện, đầy đủ, logic và mối quan hệ giữa các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Thứ hai: Phải đặc biệt tôn trọng nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quan hệ dân sự đó là: sự tự nguyện của đương sự khi sự tự nguyện này không trái quy định của pháp luật.

                                                                      Nguyễn Thị Trâm –P9