menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Hải Châu - Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát
Đăng ngày 31-12-2020 08:47

Năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát động thi đua lập thành tích xuất sắc hướng tới các ngày lễ lớn của đất nước, đặc biệt kỷ niệm 60 năm thành lập ngành kiểm sát nhân (26/7/1960-26/7/2020).

Nhìn lại chặng đường lịch sử 60 năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” có vai trò đặc biệt quan trọng, đồng hành và góp phần quan trọng trong việc giữ gìn phẩm chất sáng ngời đạo đức cách mạng người kiểm sát nhân dân. Thấm nhuần tư tưởng của Bác, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ kiểm sát cũng luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc của nhân dân lên trên các lợi ích khác; tư tưởng vũ khí sắc bén trong đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

* Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát

Bất kỳ Nhà nước nào sinh ra quyền lực thì phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Trên thế giới vốn sử dụng lý thuyết tam quyền phân lập, khái niệm do John Locke (16321704) người đầu tiên đề cập. Sau đó, được Charles de Secondat Montesquieu (1689 – 1755) tiếp tục đề cập trong tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật". Theo Montesquieu, để đảm bảo sự tự do thì các cơ quan này phải hoạt động độc lập. Tuy nhiên, trên thực tế không có Nhà nước nào phân lập quyền lực hoàn toàn, mà chỉ có nguyên tắc kìm chế, đối trọng lẫn nhau.

Lênin khi “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế” đã phân tích: Viện kiểm sát không theo nguyên tắc song trùng trực thuộc như các cơ quan nhà nước khác, phải kiên quyết bảo vệ tính tập quyền Viện kiểm sát nhân dân. Với nguyên tắc “phụ thuộc kép”,  phản ánh quyền lợi và thành kiến của giới chức quan liêu địa phương. Viện kiểm sát phải là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước và mọi công dân, bảo đảm cho bất cứ quyết định nào của bất cứ một cơ quan hành chính địa phương nào cũng không đi ngược pháp luật nên Viện kiểm sát địa phương chỉ trực thuộc vào Trung ương.

1. Viện kiểm sát nhân dân nhìn từ lịch sử lập hiến Việt Nam

Theo Hiến pháp năm 1946 quy định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” Sau đó, trải qua năm lần sửa đổi Hiến pháp vào các năm 1959, 1980, 1992, 2001 và đến Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp".

Nếu như Hiến pháp năm 1946 chỉ có Tòa án nhân dân được quy định trong Hiến pháp, là cơ quan tư pháp thì với Viện Kiểm sát nhân dân phải đến Hiến pháp năm 1959 mới trở thành một cơ quan Hiến định và duy trì từ đó cho đến nay. Lịch sử đã khẳng định vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy nhà nước là không thể thay thế. Hiện nay với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp được hình thành nên bởi sứ mệnh của Ngành, của những thế hệ tiếp nối truyền thống dày công xây dựng. Trong đó, chính đạo đức cách mạng là nền tảng hình thành nên đạo đức của người cán bộ tư pháp nói chung và cán bộ Kiểm sát nói riêng được kết tinh là mười chữ vàng Bác căn dặn ngay từ những ngày đầu đầu thành lập: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.

Như vậy, trước Hiến pháp năm 1959 công tố gắn liền với xét xử, hoạt động công tố độc lập với hoạt động điều tra, hay còn gọi "Công tố thẩm quyền hẹp". Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 không trực tiếp đề cập đến công tố. Viện Kiểm sát nhân dân chỉ thực sự trở thành một chế định độc lập trong bộ máy các cơ quan nhà nước kể từ Hiến pháp năm 1959. Với tính chất đặc thù theo chức năng Hiến định, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Với ý nghĩa đó, Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

2. Bối cảnh ra đời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát

Năm 1960 là lần đầu tiên ngành Kiểm sát nhân dân xây dựng Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Việt - Viện trưởng đầu tiên của ngành Kiểm sát nhân dân đã cử các đồng chí Bùi Lâm và Nguyễn Văn Ngọc - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đến báo cáo và xin ý kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua.

Sau khi nghe xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Viện kiểm sát phải có biện pháp cụ thể để thực hiện cho được chức năng, nhiệm vụ của mình, đó là trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho ngành Kiểm sát. Là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc chấp hành pháp luật của người khác, cán bộ ngành Kiểm sát phải là những người gương mẫu chấp hành pháp luật. Sau đó, Bác căn dặn cán bộ Kiểm sát phải: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.

Ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân gồm 6 chương, 25 Điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc Lệnh số 20-LCT công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, sự kiện lịch sử này đánh dấu sự ra đời Viện Kiểm sát nhân dân trong lịch sử hình thành các tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung và Viện Kiểm sát nhân dân nói riêng.

Trong một hoàn cảnh hoàn toàn tự nhiên, lời căn dặn bất hủ của Bác với cán bộ kiểm sát ra đời. Kể từ đó về sau, di huấn của Người đồng hành thủy chung với ngành Kiểm sát nhân dân, là kim chỉ nam về “dụng nhân”. Với những phẩm chất sáng ngời, ngày nay những trang sử mới của ngành Kiểm sát được viết tiếp và thể hiện rõ tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Với trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Đó là là chức năng Hiến định, vừa là nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng dành cho cán bộ ngành Kiểm sát.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát và những bài học từ thực tiễn hoạt động quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

Thượng tôn pháp luật là một trong nhưng bài học đầu tiên của người cán bộ kiểm sát. Do đó việc chấp hành pháp luật phải “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.

(i) “Công minh” – Giới hạn cao nhất về trách nhiệm của người cán bộ kiểm sát;

Lịch sử đã chứng minh bất kể thời kỳ nào cũng có thể để xảy ra oan, sai, trên thế giới hay tại Việt Nam thì câu chuyện này sẽ không bao giờ có hồi kết. Nhìn lại những vụ án oan, sai kinh điển trong lịch sử dân tộc đã minh chứng cho nhận định này. Do đó, giá trị về “Công minh” thể hiện tầm quan trọng, là giới hạn trách nhiệm cao nhất của người cán bộ kiểm sát.

Thời nhà Lê, Nguyễn Trãi là công thần, ông giữ chức quan đại thần hành khiển. Thế nhưng đã hàng trăm năm trôi qua giai thoại ‘tru di tam tộc’ vẫn không phai mờ theo năm tháng. Trong vụ án “Lệ Chi viên” hay còn gọi là “vụ án vườn vải”. Nguyễn Trãi và vợ Nguyễn Thị Lộ bị triều đình Lê Sơ kết tội giết vua Lê Thái Tông, bị bắt tội chém đầu cả ba họ nhà Nguyễn Trãi. Sau đó, vua Lê Thánh Tông là con trai thứ tư của Lê Thái Tông lên làm vua và ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi. Nhờ sự công minh của vua Lê Thánh Tông mà thân phận với tấm lòng độ lượng về lòng “nhân nghĩa” (thương dân, vì dân, an dân, sự khoan dung, độ lượng, là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình) như Nguyễn Trãi không bị chôn vùi.

Với trách nhiệm của người cán bộ kiểm sát, sự công minh gắn với tinh thần “thượng tôn pháp luật”, tất cả những điều đó khẳng định tầm quan trọng về sự minh bạch trong thực thi pháp luật với thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động động tư pháp của người cán bộ kiểm sát.

 (ii) “Chính trực” –  Phẩm chất cao thượng của người cán bộ kiểm sát;

Trong nho giáo, chính trực thường gắn liền với bậc “chính nhân quân tử”. Bậc quân tử là hình mẫu cho sự thanh cao, hành động nghĩa hiệp. Người chính trực không bị phân tâm, không bị mua chuộc bởi danh lợi. Đặc biệt, không phiến diện khi chỉ nhìn hình thức để đánh giá bản chất. Nếu chỉ nhìn tờ giấy trắng qua ống kính màu hồng thì màu trắng của tờ giấy bị màu hồng của ống kính chi phối không còn giữ được màu trắng vốn có như ban đầu.

Chính trực của người cán bộ kiểm sát, đó là ý chí tiến công tội phạm đến cùng và kiểm sát việc chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất. Đương thời, đồng chí Bùi Lâm - Viện trưởng Viện công tố Trung ương từ năm 1958 đến 1960 và nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Vốn là người quen của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ở bên Pháp, ông được mệnh danh “Bao công” của nền tư pháp cách mạng, có lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông tham gia vào Trung ương nhưng với suy nghĩ còn nhiều người tài đức hơn nên ông không nhận lời”. Lời từ chối nhận danh lợi cho bản thân là hình ảnh đẹp nhất, xứng tầm với một người lãnh đạo ngành kiểm sát.

Chỉ khi nào con người rời xa “danh, lợi” diệt trừ sự ham muốn mới nuôi nổi nhân cách. Biểu hiện của “chính trực" nhìn thấy sự “công minh” nhưng để nhìn thấy được điều đó người cán bộ kiểm sát rèn luyện ý chí trước hết với những thách thức như “tạo thiện cảm”, “yêu ghét”, “công tư”. Chỉ khi hành động bằng khối óc và con tim biết thổn thức thì hành động đó quý hơn vạn lời nói, không hữu khuynh nhưng cũng không né tránh, trách nhiệm, trọng nghĩa, trọng danh dự, thượng tôn pháp luật là chuẩn mực cao nhất của người cán bộ kiểm sát.

Khi hội tụ điều này thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ kiểm sát vẫn vững trước viên thuốc với vỏ bọc đường, đây cũng lời Bác đã dạy: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”.

(iii) “Khách quan” – Sự vật tồn tại độc lập, phản ánh khách quan không phụ vào ý thức chủ quan của người cán bộ kiểm sát;

Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát đã tạo ra thuyết hoài nghi vì cho rằng Viện kiểm sát vừa đá bóng, vừa thổi còi. Hay như đặt câu hỏi sao không gắn công tố với điều tra mà lại gắn công tố với kiểm sát. Tất cả những điều đó phản ánh tính chất phức tạp, sự khắc nghiệt trong nhận thức, không loại trừ phó mặc với "quyền anh, quyền tôi”. Tuy nhiên, không hề bao biện khi trả lời “không đúng”, bởi cái lý để các bậc yếu nhân để Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố gắn với kiểm sát hoạt động tư pháp, đây là một quyết định vô cùng sáng suốt.

Ví dụ: vụ án giết người tại thôn Me vào đêm ngày 15 tháng 8 năm 2003, nạn nhân là chị Nguyễn Thị Hoan.

Sau khi khởi tố và áp dụng biện pháp tạm giam đối với ông Nguyễn Thanh Chấn từ năm 2003. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên ông Chấn phạm tội giết người, với mức án chung thân. Hồ sơ vụ án thể hiện ông Chấn tự thú, tự nhận là người đã giết chị Hoan, nhưng lời khai nhận tội liên tục thay đổi và khi kết thúc điều tra thì ông Chấn bắt đầu phản cung (lúc này đã thụ án được trên 10 năm). Khi ông Chấn kêu oan, phần lớn đều nhận định “bản chất của tội phạm thường hay ngoan cố”, nhưng Điều tra viên của Viện kiểm sát lại không nghĩ như vậy “dù có thế nào vẫn phải xem bản chất sự thật của nó, người dân không ai người ta dựng chuyện về thủ phạm giết người được. Cần đến tận nơi, vấn đề là để người ta nói thật khách quan”.

Nếu đặt mình vào những thân phận oan nghiệt đó thì chúng ta mới thấu cảm hết nỗi đau của người bị oan để từ đó thấy được ý nghĩa khi tìm ra chân lý thuộc về sự thật khách quan. Chỉ thị “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” là hoạt động công tố thiết thực, gắn với điều tra nhằm đảm bảo tính khách quan, tính hiệu quả. Khi đánh giá một sự việc cụ thể, hay hành vi phạm tội phải tôn trọng sự thật khách quan, không áp đặt, không suy diễn. Muốn tiếp cận chân lý thì người đó phải hiểu nguyên lý, nắm vững và làm chủ tri thức khoa học pháp lý và những kỹ năng về nghiệp vụ kiểm sát. Với cán bộ kiểm sát, không phân biệt chứng cứ buộc tội hay chứng cứ gỡ tội, chứng cứ có lợi hay không có lợi và tránh xa những định kiến ban đầu. Mọi hành động cảm tính, chủ quan, mơ hồ về nhận thức đều bị trả giá (dân sự là quyền tài sản; hình sự là tính mạng, quyền nhân thân). Để xảy ra oan, sai trách nhiệm trước hết thuộc về Viện kiểm sát “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”.

(iv) “Thận trọng” – Phẩm chất cốt lõi của người cán bộ kiểm sát;

Trong số năm đức tính theo Bác Hồ căn dặn cán bộ kiểm sát, thận trọng là đức tính gắn liền với công việc hàng ngày của cán bộ kiểm sát. Sự thận trọng không chỉ gắn với từng vụ án mà chính là trách nhiệm đối với chính bản than mình. Nếu trong oan thì phải có sai và cái sai đó là trách nhiệm của chính mình. Là con người thì “nhân vô thập toàn”, không có ai hoàn hảo cả, cán bộ kiểm sát cần phải chiêm nghiệm sâu sắc điều này, để không làm oan người vô tội nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm.

Trong vụ án giết người tại Bưu cục Cầu Voi – Long An. Vụ án xảy ra năm 2008 đến nay vần chưa có hồi kết về mặt dư luận. Chính vì thế, giá trị của sự thận trọng với công tác kiểm sát có ý nghĩa vô cùng. Bất kể vụ án nào, nếu khép lại một vụ án còn hoài nghi, khi mà niềm tin nội tâm lớn hơn giá trị chứng cứ thì sự chứng minh đó chỉ dựa tri thức, nhận thức, sự trải nghiệm, nhưng xác tín nhỏ hơn các giá trị khác là thiếu tính thuyết phục. Chúng ta nhận thức được rằng sai sót trong một khâu không thể hiện bản chất một quá trình, nhưng với chức năng của ngành kiểm sát thì sự thận trọng sẽ hạn chế những sai phạm, đó là trách nhiệm.

Sinh mệnh con người chỉ một lần được sinh ra và cũng chỉ có một lần chết nên không thể khắc phục tồn tại bởi những thiếu sót, bất cẩn, nhất là với niềm tin công lý được gửi gắm vào ngành kiểm sát. Do đó, thận trọng sẽ đem lại nhiều giá trị trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Giá trị này được cố Tổng bí thư Lê Duẩn căn dặn: “Một người bị tội oan, chẳng những người ấy đau khổ, mà gia đình, con cái họ càng đau khổ hơn. Làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không còn lẽ sống nữa, bởi vì chúng ta là những người cộng sản”.

(v) “Khiêm tốn” – Điều không bao giờ đủ của người cán bộ kiểm sát;

Trong bốn đức tính đầu có tính biện chứng khá rõ nét thì khiêm tốn là sự hài hòa với bốn đức tính. Tài năng để xây nên những tòa tháp chọc trời nhưng bằng sự khiêm tốn đã giữ cho tòa tháp cao ngút không bị sụp đổ. Khiêm tốn là bài học của mọi bài học, thiếu khiêm tốn cũng là họa “con chim chết vì tiếng hót, người chết vì cái miệng”. Với nhiệm vụ của Kiểm sát viên, càng khiêm tốn thì trách nhiệm oan, sai càng nhỏ.

Tư tưởng Hồ Chí minh về cán bộ kiểm sát là bài học sâu sắc, vượt thời gian, thể hiện giá trị cốt lõi về những phẩm chất của người cán bộ Kiểm sát để làm nên lịch sử 60 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Kiểm sát nhân dân. Tư tưởng là nền tảng vững chắc tiếp tục xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, nhất là về công tác cán bộ.

Phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác năm 2020 ngành kiểm sát nhân dân, đồng chí Trần Quốc Vượng - Ủy viên Bộ chính trị, thường trực Ban bí thư đã nhấn mạnh: “Quyền lực trong hoạt động tư pháp rất lớn, tác động trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân, đến số phận của con người, một nội dung rất quan trọng đã được Hiến pháp bảo vệ. Do vậy, cần phải được thực thi trong khuôn khổ pháp luật, thắm đượm tinh thần nhân văn cao cả của người cộng sản”.

Quyền lực càng lớn thì càng phải khiêm tốn, càng phải rèn luyện để xứng đáng với quyền lực đó. Cán bộ là công bộc của nhân dân, người đầy tớ của nhân dân. Thế nên, Bác Hồ coi trọng cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc. Người cán bộ kiểm sát không thể thiếu một trong năm đức tính Bác đã dạy; và năm đức tính của người Kiểm sát nhân dân. Sinh thời Bác quan niệm: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hóa. Tư tưởng của con người cũng biến hóa. Vì vậy cách xem xét cán bộ, quyết không chấp nhất, vì nó cũng có thể biến hóa”. Đồng thời, Bác nhìn nhận tổng thể về bản chất con người, phẩm chất của người cán bộ để xây dựng cán bộ “Xem xét cán bộ, không chỉ ngoài mặt mà còn phải xem xét tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cảnh lịch sử, toàn cả công việc của họ”. Vì thế, Bác đã khẳng định “Cán bộ là gốc của mọi công việc”; "Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

4. Không ngừng học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất người cán bộ kiểm sát

Chủ tịch Hồ Chí Minh Bác Hồ đã dạy: “Hiền giữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Đạo đức cách mạng cũng không từ trên trời rơi xuống, cũng phải rèn dũa, bồi đắp từng ngày thì mới phong phú. Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ cán bộ sống có trách nhiệm, có hoài bão, có khát vọng và bảo đảm tính kỷ luật thì sự tha hóa, phai nhạt lý tưởng, xuống cấp về đạo đức, về lối sống của một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nhẹ thì biểu hiện như sa vào quan liêu, những nhiễu, vô kỷ luật, bệnh vô cảm, ngại đấu tranh, ngại va chạm; nặng thì bị xử lý hành chính, hình sự ... Mặc dù chỉ là những “con sâu” trong bộ máy công quyền đang len lỏi ở các cấp, các Ngành nói chung, nhưng sự tồn tại này làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu tổ chức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tiếp tục gắn thực hiện Chỉ thị 05 với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, phát động các phong trào: (i) Thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; (ii) Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn, gắn với những bài học được rút ra từ thực tiễn hoạt động quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong thời đại công nghệ 4.0. Với ý nghĩa đó, chúng tôi đưa ra một số giải pháp như sau:

Một là, nâng cao tính Đảng của người đảng viên gắn với nhiệm vụ người cán bộ kiểm sát. Bác Hồ dạy: “Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do ‘‘tự giác’’, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Vậy thì mỗi đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc”.

“Tính Đảng” là những thuộc tính căn bản, cốt lõi, bản chất của người đảng viên; sự cống hiến vô điều kiện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng do Đảng khởi xướng, lãnh đạo. Do đó, sự cần thiết phải nâng cao tính Đảng của mỗi người đảng viên, trong mỗi đơn vị và trong toàn Ngành, bởi lẽ nâng cao tính Đảng sẽ khơi thông tư tưởng, nâng cao công tác tổ chức và mang lại hiệu quả thực chất khi được phân công nhiệm vụ với bất kỳ hoàn cảnh nào.

Hai là, cần phát động phong trào thi đua thực hành “Cần, kiệm, liêm, chính”. Nhận thức tầm quan trọng về rèn luyện đạo đức cách mạng thông qua học tập và làm theo đạo đức phong cách Hồ Chí Minh của ngành kiểm sát nhân dân trong thời đại cách mạng 4.0; đồng thời khuyến khích các giải pháp thiết thực gắn với vị trí, nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ kiểm sát phục vụ nhân dân theo tứ đức “Cần, kiệm, liêm, chính” và phụng sự nhân dân đối với “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Ba là, không quan liêu khi cất nhắc, sử dụng cán bộ. Nắm rõ cán bộ và cất nhắc cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng. Sử dụng cán bộ nếu chỉ biết nghe cán bộ trình bày mà không nắm được việc làm của cán bộ thì không khác nào dung dưỡng cho những phần tử ‘cơ hội’, ‘xảo ngôn’…. Cổ nhân đã dạy: “Trung ngôn nghịch nhĩ” (lời nói ngay thẳng nghe chướng tai). Do đó, khuyến khích những người thật, việc thật, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Muốn phân định được người tìm việc và người tìm ghế thì chính người sử dụng cán bộ phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; và “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất của người cán bộ kiểm sát phải: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” và những bài học từ lịch sử là minh chứng cụ thể nhất, hiện thực hóa nền tảng đạo đức cách mạng người cán bộ kiểm sát nói riêng và đạo đức cách mạng nói chung. Các thế hệ của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu vinh dự, tự hào là những người được đồng hành, tiếp thu và càng thấm thía lời căn dặn của tư tưởng ấy của Người. Trong hoàn cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, địa bàn Hải Châu là tâm dịch đợt thứ hai của cả nước, nhưng thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ kiểm sát, Viện kiểm sát Hải Châu đã khắc phục khó khăn và vượt qua mọi hoàn cảnh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị gắn với nhiệm vụ của đơn vị. Trên nền tảng tư tưởng quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí minh về cán bộ kiểm sát gắn với nhiệm vụ công tác trong năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu vinh dự được Hội đồng thi đua xét công nhận Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua khối quận, huyện năm 2020; Đơn vị được công nhận “Cơ quan đạt chuẩn văn hóa tiêu biểu năm 2020”. Đặc biệt Viện kiểm sát hải Châu được cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân tin tưởng là cơ quan với nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất tại địa phương.

Nguyễn Đức Khoa – VKSND quận Hải Châu