menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Một số vi phạm thường gặp trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình sơ thẩm
Đăng ngày 18-11-2021 09:02

Thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án hai cấp, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng nhận thấy có một số vi phạm của Tòa án mà các Kiểm sát viên cần lưu ý để rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong toàn ngành Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng thời gian tới.

Bên cạnh những vi phạm thường xảy ra trong thời gian qua như vi phạm về thời hạn gửi bản án, quyết định; căn cứ áp dụng thiếu điều luật; ban hành bản án, quyết định chưa đúng mẫu… thì thời gian gần đây, Tòa án còn mắc phải một số vi phạm mới như sau:

- Quyết định chuyển hồ sơ vụ án: “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”: quan hệ pháp luật mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu được quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự  (BLTTDS) chứ không phải tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS nhưng Tòa án quận T lại áp dụng khoản 3 Điều 26 BLTTDS và lý do Bất động sản có liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất … địa chỉ tại quận S…” để chuyển vụ án đến Tòa án quận S là không đúng căn cứ và quan hệ pháp luật được thụ lý giải quyết.

Bên cạnh đó, vụ án được thụ lý từ ngày 29/01/2021 nhưng đến ngày 26/10/2021, Tòa án quận T mới chuyển vụ án đến Tòa án quận S để giải quyết theo thẩm quyền là vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm giải quyết về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, do có đương sự không xác định được địa chỉ, nơi cư trú nên Tòa án đã quyết định tạm giao cho một đương sự khác có mặt quản lý số tiền mà đương sự vắng mặt được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, tại phần quyết định về án phí, Tòa án chỉ quyết định buộc đương sự vắng mặt chịu án phí dân sự sơ thẩm mà không tuyên buộc đương sự đang tạm giữ số tiền của đương sự vắng mặt phải trích từ số tiền mà họ đang tạm giữ để thực hiện nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm cho đương sự vắng mặt là chưa đầy đủ, gây khó khăn trong công tác thi hành án chủ động đối với phần nghĩa vụ chịu án phí của đương sự vắng mặt.

- Căn cứ lý do tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định, bởi lẽ: ảnh hưởng của dịch bệnh là trở ngại khách quan, là sự kiện bất khả kháng nên Tòa án phải ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự mới phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 203 BLTTDS.

Điểm b, khoản 1 Điều 203 BLTTDS quy định: “…Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử …”.

- Theo quy định khoản 2 Điều 212 của BLTTDS thì: “Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”. Thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án được hiểu là ngoài việc thỏa thuận được từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì các đương sự phải thỏa thuận cả về nghĩa vụ chịu án phí. Nếu đương sự không thỏa thuận được án phí thì không coi là hòa giải thành và Thẩm phán không được ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Tuy nhiên, có những Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nghĩa vụ chịu án phí mà chỉ thể hiện nội dung đương sự được miễn nộp tiền án phí là không đầy đủ, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 212 BLTTDS nêu trên.

Mặt khác, khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có quy định: “Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp”. Như vậy, trường hợp nếu các đương sự có thỏa thuận một bên đương sự là người chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và đương sự đó là người được miễn nộp tiền án phí thì họ cũng chỉ được miễn đối với phần mà họ phải chịu theo quy định, phần còn lại họ chịu thay cho đương sự khác thì cũng không được miễn nộp. Việc Tòa án ghi nhận đương sự được miễn nộp toàn bộ tiền án phí là không đúng quy định tại khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326 nêu trên, làm thất thu ngân sách Nhà nước.

Những vi phạm như trên cần được phát hiện kịp thời, yêu cầu Tòa án khắc phục, rút kinh nghiệm để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.

                                                                      Bùi Thị Hiền – Phòng 9