menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết khiếu nại .
Đăng ngày 18-11-2021 03:20

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tại Điều 192 quy định về trả lại đơn khởi kiện và Điều 194 quy định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện. Quá trình giải quyết khiếu nại theo 02 điều luật này phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết khiếu nại về việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện.  

 

Theo trình tự thủ tục về việc giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện được quy định như sau: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện thì đương sự có quyền khiếu nại, VKS có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại có sự tham gia của đại diện VKS và đương sự có khiếu nại, trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp. Trường hợp đại diện VKS vắng mặt mà không có kiến nghị của VKS về việc trả lại đơn khởi kiện thì không hoãn phiên họp, nếu có kiến nghị của VKS về việc trả lại đơn khởi kiện thì phải hoãn phiên họp. Kết thúc phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại hoặc kiến nghị, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Thẩm phán thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết, đương sự có quyền khiếu nại, VKS có quyền kiến nghị lên Chánh án Tòa án cấp trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng Điều 194 Bộ luật TTDS năm 2015 để giải quyết về việc khiếu nại trả lại đơn khởi kiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 192, thì Tòa án trả lại đơn kiện và các tài liệu kèm theo cho cho người khởi kiện, Viện kiểm sát chỉ nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Vì vậy, khi có khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của người khởi kiện thì theo quy định tại Điều 194 Bộ luật TTDS năm 2015 VKS tham gia phiên họp giải quyết khiếu nại  nhưng không có quy định về việc Tòa án  chuyển hồ sơ tài liệu cho VKS. Theo Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì trong những trường hợp cần xem xét kiến nghị hoặc khi nhận được thông báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, VKS sẽ gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ, chứ không phải trong tất cả các trường hợp trả lại đơn Tòa án cũng đều sao gửi cho VKS đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Vì vậy, với thời gian mở phiên họp chỉ 5 ngày VKS sẽ khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu chứng cứ để xem xét và phát hiện được vi phạm, thiếu sót trong việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.

Về thời gian mở phiên họp theo quy định tại Điều 194 Bộ luật TTDS năm 2015 thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn. Với quy định  này, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết khiếu nại không đủ thời gian nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các thù tục như cho VKS sao chép tài liệu cũng như gửi thông báo cho các đương sự và VKS  tham gia phiên họp. Theo quy định thì trường hợp đương sự vắng mặt Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp, tuy nhiên  nếu đương sự không nhận được  thông  báo mở phiên họp của Tòa án mà Tòa án vẫn tiến hành  mở phiên họp là đã ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

Bộ luật TTDS năm 2015 không quy định thời gian hoãn phiên họp và các trường hợp hoãn phiên họp giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên trong thực tế một số phiên họp cũng phải bị hoãn do dịch bệnh hoặc do Thẩm phán được phân công vì lý do khách quan không thể mở phiên  họp theo thời gian đã ấn định. Đây là một khó khăn vướng mắc chưa được  hướng dẫn thực hiện.

Theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật TTDS năm 2015 quy định về thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật TTDS về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Trong thực tế áp dụng đã  xảy ra trường hợp Tòa án trả lại đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập, đương sự có khiếu nại nhưng Bộ luật TTDS năm 2015 không quy định về trình tự thủ tục việc  giải quyết khiếu nại đối với trường hợp trả lại đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập. Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật TTDS năm 2015 thì chỉ quy định về việc giải quyết khiếu nại về trả lại đơn khởi kiện. Vậy nên trong thực tế hiện nay  có hai quan điểm trái ngược nhau về việc giải quyết khiếu nại đối với việc Tòa án trả lại lại đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập, đó là: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp trả lại đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập thì áp dụng theo quy định tại Điều 194 Bộ Luật TTDS năm 2015 để giải quyết theo trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện như việc giải quyết khiếu nại của nguyên đơn. Quan điểm thứ hai cho rằng: Việc trả lại đơn phản tố và đơn yêu cầu độc lập là hành vi của Thẩm phán trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án nên nếu có khiếu nại thì căn cứ  Điều 504 Bộ luật TTDS năm 2015 để giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng là Thẩm phán  trong quá trình thụ lý vụ án. Đây là một vấn đề vướng mắc chưa đựơc hướng dẫn giải quyết.

Với những khó khăn, vướng mắc nêu trên, kính đề nghị các ngành tư pháp Trung ương cần sớm nghiên cứu ban hành hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng Bộ luật TTDS năm 2015 được đảm bảo thống nhất./.

 Tú Anh – phòng 10