menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Rút kinh nghiệm từ một vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Đăng ngày 29-11-2021 04:11

Thông qua việc giải quyết 01 vụ án KDTM phúc thẩm“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết vụ án nhận thấy cần nêu lên để rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao hơn nữa việc giải quyết án KDTM.

 

- Tóm tắt nội dung vụ án: Ngày 09.4.2020, Công ty N.T.U và  Công ty T.S.Đ ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số NTU-HXH/2020-HĐMB. Theo nội dung hợp đồng thể hiện: Công ty N.T.U bán cho Công ty T.S.Đ số hàng hóa là 140.000 kính bảo hộ với đơn giá 10.000 đồng/cái. Tổng số tiền Công ty T.S.Đ phải thanh toán cho Công ty N.T.U  theo hợp đồng chưa bao gồm thuế VAT là 1.400.000.000 đồng. Công ty T.S.Đ đã tạm ứng cho Công ty N.T.U  420.000.000 đồng. Thời gian giao hàng từ ngày 16.4.2020 đến ngày 20.4.2020, địa chỉ nhận hàng tại kho hàng bên bán. Sau khi ký hợp đồng, ngày 28/3/2020, Công ty N.T.U  đã tiến hành mua hàng của Công ty tại Hồng Công và đã làm thủ tục hải quan nộp thuế đưa hàng về kho của công ty. Đến thời điểm giao hàng, Công ty N.T.U  đã nhiều lần liên hệ và gửi văn bản yêu cầu Công ty T.S.Đ đến nhận hàng nhưng Công ty T.S.Đ không nhận hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng.  

Ngày 29/7/2020, Công ty N.T.U  có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty T.S.Đ bồi thường do vi phạm hợp đồng các khoản sau:

 + Bồi thường thiệt hại của Hợp đồng là 1.120.000.000 đồng và lãi suất cơ bản Vietcombank (0,8%/tháng) tạm tính từ tháng 4 đến tháng 7.2020 là 35.840.000 đồng.

+ Khoản tiền phạt hợp đồng tương đương 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm tính trên số tiền vi phạm 1.120.000.000 đồng là 89.000.000 đồng.

+ Bồi thường thiệt hại khoản chi phí thiệt hại phát sinh đến tháng 7.2020 (tiền thuê xe, thuê bốc vác hàng hóa, thuê kho, ...) là 137.000.000 đồng.

+ Đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng mua bán số NTU-HXH/2020-HĐMB ngày 09.4.2020 với Công ty T.S.Đ. 

+ Đề nghị Tòa án buộc bà Hồ Thị Xuân H người có quyền lợi  nghĩa vụ liên quan trong vụ án liên đới bồi thường thiệt hại do Công ty T.S.Đ vi phạm Hợp đồng.   

- Quá trình giải quyết vụ án:

* Bản án  KDTM số 01/2021/KDTM-ST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty N.T.U đối với Công ty T.S.Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Đình chỉ thực hiện Hợp đồng mua bán số NTU-HXH/2020-HĐMB ngày 09.4.2020 giữa Công ty N.T.U  và Công ty T.S.Đ.

Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty T.S.Đ về việc chịu một phần thiệt hại cho Công ty  N.T.U  số tiền là 420.000.000đồng, tương đương số tiền tạm ứng mà Công ty T.S.Đ đã chuyển cho Công ty N.T.U  theo Hợp đồng mua bán. 

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty  N.T.U đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại và thanh toán số tiền 1.381.840.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và kháng cáo.

* Ngày 03/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng ban hành kháng nghị số 233/2021QĐKNPT đối với Bản án  KDTM số 01/2021/KDTM-ST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng.

 * Bản án phúc thẩm số 09/2021/KDTM-PT ngày 22/4/2019 của TAND thành phố Đà Nẵng đã nhận định: Công ty T.S.Đ không thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng là đã vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho Công ty N.T.U.

Về giá trị bồi thường thiệt hại thực tế do vi phạm hợp đồng là: (Tổng giá trị hàng hóa theo hợp đồng 1.400.000 đồng – số tiền đã tạm   ứng  420.000 đồng   – giá trị  hàng hóa được thanh lý 304.200.000 đồng = 675.800.000 đồng)

Về tiền phạt hợp đồng: Theo thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng các bên đã thỏa thuận mức phạt là 8% giá trị hợp đồng vi phạm là: (Tổng giá trị hàng hóa theo hợp đồng 1.400.000 đồng – số tiền đã tạm  ứng  420.000 đồng  = 980.000.000 đồng x 8% = 78.400.000 đồng)

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty N.T.U chỉ yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại về giá trị hợp đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng như trên.  

Bản án phúc thẩm tuyên:

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty N.T.U  đối với Công ty T.S.Đ về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng.

Sửa một phần bản án KDTM số 01/2021/KDTM-ST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng.

Xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty N.T.U đối với Công ty T.S.Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Đình chỉ thực hiện Hợp đồng mua bán số NTU-HXH/2020-HĐMB ngày 09.4.2020 giữa Công ty N.T.U  và Công ty T.S.Đ.  

Buộc Công ty T.S.Đ phải trả cho Công ty N.T.U  số tiền là: 765.200.000 đồng

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty N.T.U về việc yêu cầu buộc bà bà Hồ Thị Xuân H liên đới bồi thường thiệt hại.

- Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Ngày 09.4.2020, Công ty N.T.U và Công ty T.S.Đ ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số NTU-HXH/2020-HĐMB. Hợp đồng mua bán được ký kết giữa hai Công ty trên cơ sở tự nguyện đảm bảo quy định của pháp luật nên được bảo vệ và được thực hiện. Sau khi ký hợp đồng, Công ty N.T.U  đã tiến hành mua hàng và đưa về kho để bàn giao cho Công ty T.S.Đ. Tuy nhiên Công ty T.S.Đ không đến nhận hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, việc Công ty T.S.Đ không thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng là đã vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho Công ty N.T.U. Theo quy định tại Điều 302 Luật thương mại quy định “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.”. Căn cứ quy định trên thì Công ty T.S.Đ phải bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Theo các chứng cứ có trong vụ án thể hiện: Tại thời điểm xét xử sơ thẩm số hàng hóa đang được lưu kho chưa bán được nên giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp là: (Giá trị hàng hóa theo hợp đồng 1.400.000đồng – số tiền tạm ứng 420.000 đồng = 980.000.000 đồng) và các khoản chi phí như lưu kho, thuê kho lưu trữ hàng hóa do Công ty T.S.Đ không nhận hàng v..v. là 137.000.000 đồng.  Theo đơn khởi kiện Công ty N.T.U  chỉ yêu cầu bồi thường về các khoản thiệt hại trực tiếp, không yêu cầu bồi thường về khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Công ty T.S.Đ vi phạm hợp đồng nhưng không xem xét toàn bộ giá trị tổn thất thực tế mà bên vi phạm gây ra để buộc bồi thường thiệt hại mà chỉ chấp nhận một phần thiệt hại về các khoản chi phí khác137.000.000đồng là không đúng theo quy định tại Điều 302 Luật thương mại ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

 

                                                                                            Nguyễn Thị Tú Anh