menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Một số qui định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng
Đăng ngày 08-11-2022 14:30

Ngày 18/8/2022, UBTV Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2022. Pháp lệnh này đa quy định nhiều nội dung về hành vi cản trở hoạt động tố tụng bị xử phạt vi phạm hành chính.

Pháp lệnh qui định những hành vi cản trở hoạt động tố tụng bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định từ Điều 9 đến Điều 15 của Pháp lệnh, cụ thể như sau:

1.1. Hành vi tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật

Hành vi này có mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, bao gồm các hành vi của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cụ thể như sau:

– Hành vi cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật  nhưng chưa đến mức làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, người có thẩm quyền).

– Hành vi cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, người có thẩm quyền.

– Lôi kéo, xúi giục, lừa dối, mua chuộc, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực buộc người khác tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật.

1.2. Hành vi tiết lộ bí mật điều tra

Hành vi này có mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, bao gồm các hành vi của Người tham gia tố tụng và Luật sư cụ thể như:

– Người tham gia tố tụng tiết lộ bí mật điều tra mặc dù đã được Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên hoặc Kiểm tra viên yêu cầu phải giữ bí mật.

– Người tham gia tố tụng tiết lộ bí mật điều tra làm trì hoãn, kéo dài thời gian điều tra mặc dù đã được Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên hoặc Kiểm tra viên yêu cầu phải giữ bí mật, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

– Luật sư tiết lộ bí mật điều tra mặc dù đã được Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên hoặc Kiểm tra viên yêu cầu phải giữ bí mật.

1.3. Hành vi vi phạm quy định về sự có mặt theo giấy triệu tập có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, bao gồm hành vi của người tham gia tố tụng cụ thể như: Người tham gia tố tụng đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng.

1.4. Hành vi cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng

có mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, bao gồm hành vi của người tham gia tố tụng cụ thể như sau: Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng.

1.5. Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 15.000.000 đồng, bao gồm hành vi của người tham gia tố tụng, người giám định, người định giá tài sản cụ thể như sau:

– Người tham gia tố tụng khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật, trừ người bị buộc tội;

– Người tham gia tố tụng từ chối khai báo hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, đồ vật, trừ người bị buộc tội.

– Người tham gia tố tụng làm giả hoặc hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, vụ việc.

– Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối.

– Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối.

– Người giám định, người định giá tài sản từ chối kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

– Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối;

– Người tham gia tố tụng lừa dối, đe dọa, mua chuộc hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;

– Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối.

2. Hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại TAND, đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Pháp lệnh qui định 7 hành vi như sau:

2.1. Hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án

Hành vi này có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, bao gồm hành vi của người làm chứng, người phiên dịch, người giám định cụ thể như sau: Người làm chứng, người phiên dịch, người giám định đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có mặt tại phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng của Tòa án.

2.2. Hành vi cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án

Hành vi này có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, bao gồm hành vi của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cụ thể là: Hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi dụng sự lệ thuộc nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án.

2.3. Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền

Hành vi này có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 15.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức không phải là người tham gia tố tụng, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định cụ thể như sau:

– Không thực hiện yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà người đó đang quản lý, lưu giữ.

– Người làm chứng khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật khi làm chứng.

– Người làm chứng từ chối khai báo, trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 78 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm e, khoản 2, Điều 62 của Luật Tố tụng hành chính.

– Làm giả hoặc hủy hoại chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, vụ việc của Tòa án.

– Không cử người tham gia Hội đồng định giá theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng.

– Người giám định từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng.

– Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, cưỡng ép hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối, trừ trường hợp quy định tại khoản 5, Điều này.

– Đe dọa, sử dụng vũ lực, gây mất trật tự hoặc có hành vi khác cản trở người có thẩm quyền tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, quyết định định giá, quyết định trưng cầu giám định hoặc thực hiện các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ khác theo quy định của pháp luật.

– Người giám định từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng.

– Không tham gia thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng định giá mà không có lý do chính đáng.

– Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, cưỡng ép hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa.

– Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, cưỡng ép hoặc sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết luận sai với sự thật khách quan.

– Người giám định kết luận giám định sai sự thật.

– Người phiên dịch cố ý dịch sai sự thật.

2.4. Hành vi cản trở việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án

Hành vi này có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 7.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức cụ thể như sau:

– Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng.

– Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án.

– Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao để cấp, tống đạt hoặc thông báo theo yêu cầu của Tòa án.

– Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao thực hiện.

Đối với thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của Tòa án không đúng quy định thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

2.5. Hành vi can thiệp vào việc giải quyết vụ án, vụ việc có mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức cụ thể như sau:

– Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi tác động dưới bất kỳ hình thức nào với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử nhằm làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật.

– Người nào lợi dụng quan hệ lệ thuộc đe thực hiện hành vi tác động dưới bất kỳ hình thức nào với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử nhằm làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật.

– Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi tác động dưới bất kỳ hình thức nào với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử nhằm làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật.

2.6. Hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự Tôn nghiêm, uy tín của Tòa án; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, xâm hại sức khỏe của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án: Có mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức; Luật sư cụ thể như sau:

– Xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án.

– Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án.

– Đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác xâm hại sức khỏe của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án.

– Luật sư thực hiện hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án; đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác xâm hại sức khỏe của người có thẩm quyền hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án.

2.7. Hành vi đưa tin sai sự thật: Có mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức cụ thể như sau:

– Đưa tin sai sự thật nhằm cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án.

– Đưa tin sai sự thật làm trì hoãn, kéo dài thời gian tiến hành hoạt động tố tụng của Tòa án.

– Luật sư thực hiện hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án; Đưa tin sai sự thật làm trì hoãn, kéo dài thời gian tiến hành hoạt động tố tụng của Tòa án.

Đối với nhà báo đăng, phát nội dung thông tin sai sự thật trên báo chí nhằm cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí.

3. Hành vi vi phạm nội quy phiên tòa, phiên họp; hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng

3.1. Hành vi vi phạm nội quy phiên tòa, phiên họp

Hành vi này có mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 15.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức cụ thể như sau:

– Sử dụng điện thoại, tạo các tạp âm hoặc thực hiện các hành vi khác gây mất trật tự tại phiên tòa.

– Để thiết bị điện tử ở trạng thái tắt camera hoặc tắt âm thanh micro mặc dù được chủ tọa phiên tòa nhắc nhở.

– Không đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, khi Hội đồng xét xử tuyên án mà không được chủ tọa phiên tòa cho phép.

– Bị cáo không đứng dậy khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố mà không được chủ tọa phiên tòa cho phép.

– Hút thuốc, ăn uống trong phòng xử án.

– Mặc trang phục không nghiêm túc, đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án không có lý do chính đáng và không được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.

– Bị cáo đang bị tạm giam tiếp xúc với người khác không phải là người bào chữa cho mình mà không được chủ tọa phiên tòa cho phép.

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã được nhắc nhở nhưng vẫn vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

– Không chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.

– Hỏi, trình bày ý kiến khi chưa được chủ tọa phiên tòa đồng ý.

– Gây rối tại phòng xử án.

– Không chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa mặc dù đã được nhắc nhở.

– Có thái độ không tôn trọng Hội đồng xét xử.

– Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án không xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác mặc dù đã được nhắc nhở.

– Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án không ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa.

– Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án rời khỏi phòng xử án khi phiên tòa đang diễn ra không có lý do chính đáng và không được chủ tọa phiên tòa đồng ý.

– Nhà báo không thực hiện yêu cầu của Tòa án về việc xuất trình thẻ nhà báo khi tham dự phiên tòa để hoạt động nghiệp vụ báo chí.

– Lôi kéo, xúi giục, kích động người khác gây mất trật tự, gây rối tại phòng xử án.

– Mang đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu hoặc tài liệu, đồ vật khác vào phòng xử án ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

– Cố ý ngắt hệ thống chiếu sáng, âm thanh, ghi âm, ghi hình ảnh hưởng đến phiên tòa.

– Đổ, ném chất thải, chất bẩn, hóa chất, gạch, đất, đá, cát hoặc vật khác vào phòng xử án.

– Mang vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy hoặc chất độc vào phòng xử án, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

– Ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử mà không được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của người tham gia tố tụng mà không được sự đồng ý của họ trong phiên tòa xét xử vụ án dân sự, vụ án hành chính; không tuân theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa về hoạt động ghi âm lời nói, ghi hình ảnh trong phiên tòa xét xử vụ án hình sự.

3.2. Hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng: Có mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, bao gồm hành vi của cá nhân, tổ chức cụ thể như sau:

– Phát tán tài liệu hoặc phát tán thông tin tài khoản đăng nhập vào hệ thống xét xử trực tuyến.

– Hủy hoại hệ thống đường truyền và thiết bị mạng, hệ thống âm thanh (loa, micro, tăng âm, bộ trộn âm thanh), thiết bị hiển thị hình ảnh tại điểm cầu trung tâm và các điểm cầu thành phần phiên tòa, phiên họp trực tuyến, thiết bị giải mã tín hiệu truyền hình, phần mềm truyền hình trực tuyến, thiết bị camera ghi hình diễn biến phiên tòa, phiên họp, thiết bị lưu trữ dữ liệu, máy chiếu vật thể dùng để trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, phiên họp.

Pháp lệnh về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng được ban hành nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng tại Toà án.

Pháp lệnh được đánh giá là rất cần thiết, đảm bảo cho hoạt động tiến hành tố tụng của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng diễn ra thông suốt, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đối với mỗi Cán bộ, Kiểm sát viên việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định trong Pháp lệnh về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng là rất cần thiết.

Hoài Linh – P 10