menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp (Phần 3, tiếp theo và hết)
Đăng ngày 19-12-2011 11:13
Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân hiện nay được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát sẽ có những thay đổi rất cơ bản, bảo đảm phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án theo cấp xét xử. Như vậy, để tổ chức lại hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, phải triển khai sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động, cán bộ của Viện kiểm sát, phù hợp với hệ thống cơ quan Viện kiểm sát mới.

 

 
 
 
  IV. Các giải pháp thực hiện
 

1. Giải pháp về xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý

 

Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân hiện nay được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát sẽ có những thay đổi rất cơ bản, bảo đảm phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án theo cấp xét xử. Như vậy, để tổ chức lại hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, phải triển khai sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động, cán bộ của Viện kiểm sát, phù hợp với hệ thống cơ quan Viện kiểm sát mới. Cụ thể là:

 

- Sửa đổi, bổ sung các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), bao gồm các điều từ Điều 137 đến Điều 140, theo hướng, thành lập hệ thống tổ chức Viện kiểm sát phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, xử lý các vấn đề về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, vấn đề giám sát của các cơ quan dân cử đối với Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp.

 

- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát, theo hướng tổ chức lại hệ thống Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Nội dung của Luật tổ chức Viện kiểm sát (sửa đổi) sẽ bao gồm cả các những vấn đề về Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát và Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự. Việc xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát (sửa đổi) cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước phù hợp với tiến trình, nội dung cải cách tư pháp được xác định trong các Nghị quyết của Đảng, theo hướng tăng cường sự độc lập của hệ thống Viện kiểm sát.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm làm rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong điều kiện cải cách tư pháp, bảo đảm sự đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách hành chính.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo hướng tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra, phù hợp với chủ trương xây dựng một nền công tố mạnh.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm làm rõ phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát phù hợp với các yêu cầu cải cách tư pháp.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức bộ máy của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, bảo đảm phù hợp với tổ chức bộ máy của hệ thống Toà án theo yêu cầu cải cách tư pháp.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về Kiểm sát viên, Điều tra viên Viện kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự theo tinh thần cải cách tư pháp.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan dân cử trong điều kiện tổ chức hệ thống Viện kiểm sát không theo đơn vị hành chính.

 

- Xây dựng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sửa đổi) để đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó có các nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát, cụ thể là:

 

+ Sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc của tố tụng hình sự liên quan đến hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát như: nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 13); nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (Điều 23); nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà; nguyên tắc quyền quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 32).

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (Điều 36); nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên (Điều 37) theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.

 
 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự (Điều 104 và Điều 109); nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra (Điều 113), theo hướng tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra.

 

+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về việc tổ chức phiên toà xét xử, về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên toà theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử.

 

- Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 theo yêu cầu cải cách tư pháp, sửa đổi quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tiếp tục khẳng định và đổi mới chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, theo hướng: Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, vừa là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong các vụ việc dân sự mà Nhà nước Việt Nam là một bên đương sự; là người (đại diện Nhà nước Việt Nam) đứng đơn khởi kiện vụ việc dân sự nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự và/hoặc không thể tự bảo vệ mình.

 

- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án và xây dựng Luật tổ chức Cơ quan điều tra, trong đó cần sửa đổi các quy định có liên quan đến việc thành lập, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án và Cơ quan điều tra phù hợp với mô hình về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát.

 

- Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, trong đó cần sửa đổi các quy định liên quan đến chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát, bảo đảm phù hợp với tính chất hoạt động và mô hình tổ chức của Viện kiểm sát theo bốn cấp, không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

 

2. Giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ

 

Để bảo đảm hoạt động bình thường ngay sau khi thành lập thì các Viện kiểm sát ở tất cả các cấp phải có đủ biên chế và đội ngũ cán bộ cần thiết.

 

- Đối với Viện kiểm sát tối cao (được tổ chức tương đương với Toà án tối cao), có hai phương án:

 

- Phương án 1: Tổ chức của Viện kiểm sát tối cao sẽ được đổi mới theo hướng tinh gọn. ở Viện kiểm sát tối cao sẽ không có các đơn vị nghiệp vụ làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, không có các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao sẽ tinh giản nhiều so với hiện nay. Đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao phải là những chuyên gia đầu ngành về nghiệp vụ kiểm sát, có kinh nghiệm thực tiễn trong ngành.

 

- Phương án 2: ở Viện kiểm sát tối cao vẫn có các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành hoạt động điều tra. Nếu vậy, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao sẽ không thay đổi nhiều so với hiện nay, chỉ rút bớt số lượng cán bộ, Kiểm sát viên ở các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, có thể phải tăng thêm số lượng Điều tra viên, tăng thêm đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật.

 

- Đối với Viện kiểm sát cấp cao (được tổ chức tương đương với Toà thượng thẩm khu vực), theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, có thể sẽ tổ chức từ năm (05) đến bảy (07) Viện kiểm sát cấp cao. Có hai phương án:

 

- Phương án 1: Viện kiểm sát cấp cao làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm. Số đơn vị Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên so với 03 Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hiện nay. Theo phương án này, số lượng cán bộ của Viện kiểm sát cấp cao sẽ trên cơ sở kế thừa số cán bộ của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hiện nay, đồng thời sẽ phải bổ sung thêm số cán bộ, Kiểm sát viên cho các Viện kiểm sát cấp cao mới thành lập.

 

- Phương án 2: Viện kiểm sát cấp cao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành hoạt động điều tra; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo phương án này, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên của các Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên nhiều so với hiện nay. Giải pháp cần thiết là ngoài việc kế thừa số cán bộ, Kiểm sát viên của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm 1, 2 và 3 hiện nay, cần phải bổ sung thêm số lượng cán bộ, Kiểm sát viên cho các Viện kiểm sát cấp cao mới được thành lập, đồng thời chuyển toàn bộ số cán bộ của các đơn vị nghiệp vụ làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở Viện kiểm sát tối cao hiện nay bổ sung cho các Viện kiểm sát cấp cao để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành điều tra.

 

- Đối với Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) (được tổ chức tương đương với các Toà án phúc thẩm), làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án/vụ việc (vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính) theo thủ tục phúc thẩm và theo thủ tục sơ thẩm một số vụ án/vụ việc. Trước mắt, số lượng và đội ngũ cán bộ các Viện kiểm sát ở cấp này sẽ trên cơ sở kế thừa số lượng và đội ngũ cán bộ của các Viện kiểm sát cấp tỉnh hiện nay. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động sẽ nghiên cứu để điều chỉnh đội ngũ cán bộ của các Viện kiểm sát cấp này.

 

- Đối với Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực (được tổ chức tương đương với Toà án sơ thẩm khu vực), về cơ bản sẽ được thành lập trên cơ sở các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hiện nay, kế thừa biên chế và đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát cấp huyện. Tuy nhiên, việc tổ chức các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực cần phải tính đến đặc thù hoạt động của Viện kiểm sát trong quan hệ với Cơ quan điều tra ở cấp huyện để bảo đảm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, bảo đảm tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều ra theo yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW.

 

3. Giải pháp về xây dựng cơ sở vật chất

 

- Đối với Viện kiểm sát tối cao, với điều kiện cơ sở vật chất như hiện nay, về cơ bản có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới. Tuy nhiên, cần đầu tư nhằm hiện đại hoá hơn nữa về công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ cho các Viện kiểm sát cấp dưới. Đồng thời đầu tư hơn nữa cho các đơn vị nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật để thực hiện việc nghiên cứu một số nội dung lớn như tội phạm học, khoa học hình sự, khoa học kiểm sát…

 

- Đối với các Viện kiểm sát cấp cao, do số lượng các Viện kiểm sát cấp cao sẽ tăng lên so với các Viện phúc thẩm hiện nay (dự kiến sẽ tăng từ 2 - 4 đơn vị), cho nên bên cạnh việc kế thừa trụ sở, trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc của ba Viện phúc thẩm hiện nay, cần đầu tư kinh phí để xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và bảo đảm kinh phí hoạt động cho các Viện kiểm sát cấp cao để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

 

Nếu thực hiện phương án giao cho các Viện kiểm sát cấp cao chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án do các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an tiến hành điều tra và thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án phúc thẩm và Toà án sơ thẩm khu vực trong địa bàn bị kháng nghị, thì cần phải tăng cường đầu tư kinh phí để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ này (số kinh phí cần được tăng cường trước mắt ít nhất phải tương đương với số kinh phí được đầu tư cho các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự (các Vụ 1, 1A, 1B, 1C, và Vụ 2 ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay).

 

- Đối với Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh), trước mắt sẽ kế thừa cơ sở vật chất hiện có của các Viện kiểm sát cấp tỉnh hiện nay. Tuy nhiên, cần tăng cường đầu tư kinh phí để hiện đại hoá hơn nữa phù hợp với tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ mới.

 

- Đối với Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, về cơ bản, sau khi được thành lập, các Viện kiểm sát cấp khu vực sẽ kế thừa cơ sở vật chất của các Toà án cấp huyện hiện nay. Tuy nhiên, sẽ có Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực phải xây dựng lại trụ sở do thay đổi địa điểm mới phù hợp với địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát đó. Trước mắt, cần tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát cấp huyện hiện nay để bảo đảm việc tăng thẩm quyền cho các Viện kiểm sát cấp này và chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực; đồng thời, nghiên cứu triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể nhằm bảo đảm cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực theo định hướng đã nêu.

 

4. Giải pháp về tính đồng bộ của các cơ quan tư pháp

 

Việc đổi mới, kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát cần phải tiến hành đồng bộ với việc đổi mới, kiện toàn hệ thống Cơ quan điều tra và đổi mới hệ thống Toà án nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về tổ chức và hoạt động của cả hệ thống cơ quan tư pháp. Các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra đều phải tiến hành đổi mới trong toàn bộ hệ thống và ở tất cả các cấp.

 

Do đó, cần có sự thống nhất về nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo đối với việc đổi mới, kiện toàn của cả ba hệ thống cơ quan Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra. Do đó, cần thành lập một Ban Chỉ đạo liên ngành do Lãnh đạo Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đứng đầu, cùng với sự tham gia của Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (có thể có sự tham gia của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính…) để chỉ đạo việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra.

 

V. Lộ trình thực hiện

 

1. Nghiên cứu, xây dựng và thông qua các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát để tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của Viện kiểm sát các cấp. (Thời gian hoàn thành nhiệm vụ này vào năm cuối nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, năm 2011).

 

2. Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để bổ sung cho Viện kiểm sát các cấp, theo hướng chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, đào tạo kiến thức về hội nhập quốc tế, đào tạo trình độ ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), đặc biệt chú trọng đào tạo các chuyên gia đầu ngành trên từng lĩnh vực hoạt động thực hiện chức năng của ngành để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. (Nhiệm vụ này được tiến hành thường xuyên hàng năm, bắt đầu từ năm 2008).

 

3. Hoàn thành việc tăng thẩm quyền cho các Viện kiểm sát cấp huyện vào năm 2009 theo đúng lộ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đề ra; tăng cường đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở, đầu tư mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và kinh phí hoạt động cho Viện kiểm sát cấp huyện, theo hướng: Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát cấp huyện có số lượng án lớn (khoảng trên 500 vụ/năm), ở những địa bàn có sự phát triển kinh tế - xã hội tăng nhanh trong những năm gần đây, tạo cơ sở vật chất và cán bộ cho việc thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực sau này. (Thời gian hoàn thành nhiệm vụ này vào cuối năm 2009).

 

4. Nghiên cứu, dự kiến danh sách các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát cấp cao làm cơ sở cho việc xây dựng, quy hoạch, điều động, đào tạo cán bộ và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát ở các cấp này. (Nhiệm vụ này được thực hiện ngay từ năm 2008, cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2011).

 

5. Xây dựng và tổ chức thực hiện phương án tổng thể về biên chế cán bộ, đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị phương tiện, điều kiện làm việc cho các Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, Viện kiểm sát phúc thẩm (cấp tỉnh) và Viện kiểm sát cấp cao theo danh sách các Viện kiểm sát đã được dự kiến. Xác định lại biên chế cán bộ, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát tối cao và phương hướng đầu tư cơ sở vật chất cho Viện kiểm sát tối cao theo chức năng, nhiệm vụ mới. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011).

 

6. Xây dựng phương án sắp xếp, điều động và bổ nhiệm cán bộ, Kiểm sát viên cho Viện kiểm sát các cấp; điều chỉnh, mua sắm, cung cấp trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát các cấp sau khi được thành lập theo quy định của pháp luật. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011).

 

7. Nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện phương án xử lý, giải quyết các vụ án/vụ việc đang được giải quyết tại thời điểm chuyển đổi Viện kiểm sát các cấp. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2010, hoàn thành vào cuối năm 2011).

 

8. Nghiên cứu, đề xuất phương án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cấp uỷ Đảng và Hội đồng nhân dân địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp. (Thời gian thực hiện nhiệm vụ này bắt đầu từ năm 2009, hoàn thành vào cuối năm 2011)./.

 

Tiến sỹ Lê Hữu Thể

 

(Phó Viện trưởng VKSNDTC, nguồn TCKS số 14 +16/20008)