menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
Hải Châu: Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “tranh chấp đòi lại tài sản”
Đăng ngày 07-06-2022 07:35

Trong hai ngày 30 và 31/5/2022, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn là ông Phạm Văn H (địa chỉ: đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu ) và bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh G (địa chỉ: đường Phan Kế Bính, phường Thuận Phước, quận Hải Châu).

Toàn cảnh phiên tòa

Nội dung vụ việc: Năm 2009, ông Phạm Văn H từ thành phố Hồ Chí Minh ra thành phố Đà Nẵng đầu tư kinh doanh và có quen biết với bà Nguyễn Thị Thanh G. Được bà G giới thiệu, ngày 31/3/2009 ông H mua 02 lô đất 19B1-12 (diện tích 113,6m2) và 20B1 (diện tích 112,8m2) của vợ chồng ông Nguyễn Chánh M và bà Phan Thị Diễm T với giá 4.554.000.000 đồng. Việc trả tiền mua 02 lô đất cho ông M và bà T là tiền của cá nhân ông bỏ ra, việc giao nhận tiền có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vì không có hộ khẩu thường trú tại Đà Nẵng nên ông có nhờ bà G đứng tên hộ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà G đã có văn bản cam kết viết tay về tài sản đó là của ông H.

Đến tháng 5/2009, ông H tiếp tục chuyển cho bà G số tiền 2.500.000.000 đồng để mua vật liệu và xây dựng căn nhà 03 tầng nằm trên 02 lô đất mà ông mua. Vì không thường xuyên ở Đà Nẵng nên ông có nhờ bà G trông coi giúp và cho mẹ con bà G ở nhờ trong ngôi nhà đó. Đến tháng 6/2018, ông yêu cầu bà G chuyển đổi sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu ngôi nhà tại 02 lô đất do ông mua (nay có địa chỉ mới là 96 - 98 đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) nhưng bà G kiên quyết không đồng ý với lý do bà G đang đứng tên trên Giấy chứng nhận nên bà G mới là chủ hợp pháp.

Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hải Châu xem xét, giải quyết tuyên 02 lô đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ 96 - 98 đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX324323, thửa đất số 544, tờ bản đồ số 20 đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh G do Sở Tài nguyên và Môi trường TP Đà Nẵng cấp ngày 22/12/2014 thuộc quyền sử dụng và sở hữu hợp pháp của ông H.

Quá trình giải quyết: Ngày 14/3/2019, bà Nguyễn Thị Thanh G có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu công nhận công sức đóng góp trong khối tài sản chung. Bà G yêu cầu Tòa án giải quyết tính gia trị nhà và đất tại địa chỉ 96 - 98 đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo giá trị hiện nay trừ đi phần tiền mà ông H bỏ ra để mua đất và xây dựng ngôi nhà trên, phần chênh lệch còn lại đề nghị Tòa án chia cho bà ½ giá trị của nhà và đất trên theo kết quả thẩm định giá với số tiền 7.580.000.000 đồng.

Ngày 10/9/2019, bà Nguyễn Thị Thanh G có đơn phản tố bổ sung, yêu cầu chia thêm cho bà phần tài sản do giá trị tăng thêm của nhà và đất trên, thêm số tiền 4.445.865.100 đồng.

Ngày 09/9/2020, bà G có đơn rút Đơn phản tố ngày 14/3/2019 và Đơn phản tố bổ sung ngày 10/9/2019, xác định nhà và đất tại địa chỉ 96 - 98 đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng là tài sản của bà tạo lập, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Nguyễn Thị Ly Na đã kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, của đương sự và những người tham gia phiên tòa. Với việc nghiên cứu, chuẩn bị nội dung vụ án kĩ càng, Kiểm sát viên đã đặt ra những câu hỏi đi vào trọng tâm vụ án, góp phần giúp Hội đồng xét xử nhận định, đánh giá vụ án. Từ đó đưa ra các luận điểm chặt chẽ để đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, Án lệ 02/2016 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H. Xác định tài sản nhà và đất tại địa chỉ 96-98 đường 3/2, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phạm Văn H. Ông H được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho theo quy định pháp luật. Ông H có nghĩa vụ trích trả cho bà Nguyễn Thị Thanh G số tiền 11.998.659.000 đồng là công sức đóng góp trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản (công sức đóng góp của các bên được xác định là ngang nhau). Cụ thể, số tiền ông H mua đất và làm nhà là 7.054.000.000 đồng. Số tiền chênh lệch là lợi nhuận chung của ông H, bà G được xác định là: 31.051.318.000 đồng - 7.054.000.000 đồng = 23.997.318.000 đồng. Do đó, ông H phải thối trả cho bà G số tiền 23.997.318.000 đồng x ½ = 11.998.659.000 đồng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 BLTTDS 2015 đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà G.

Kết quả Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên công nhận tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông H. Đối với việc xác định công sức đóng góp trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản, Hội đồng xét xử xác định công sức của bà G là 20%. Ông H có nghĩa vụ trích trả cho bà G số tiền 4.799.463.600 đồng.

Nguyễn Thị Ly Na – Viện KSND quận Hải Châu