menu_WAR_vienkiemsatportlet_INSTANCE_hKWBd2nFDgz3
TÌNH HÌNH VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
Đăng ngày 11-04-2012 14:45
1. Đặc điểm tình hình về giao thông trên địa bàn Quận Hải châu. Quận Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, là một trong những nơi tập trung dân cư đông nhất thành phố; trên địa bàn quận có nhiều doanh nghiệp, trụ cở các ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, là nơi tập trung nhiều điểm vui chơi, giải trí, nhà hàng, quán Bar,… Vì vậy, lưu lượng người tham gia giao thông trên các tuyến đường luôn trong tình trạng đông đúc, vào giờ cao điểm hay xảy ra nạn kẹt xe. Điển hình như khu vực cầu Sông Hàn, đây là “điểm nóng” về ùn tắt giao thông trong thời gian dài, vào giờ cao điểm lưu lượng xe qua cầu lớn nên thường xuyên xảy ra ùn tắc, có vụ kéo dài hàng giờ đồng hồ. Hiện nay riêng trong thành phố Đà Nẵng có gần 600.000 phương tiện giao thông cá nhân, nhưng thực tế con số này cao hơn nhiều do xe đăng ký ở các địa phương khác được người dân chuyển tới Đà Nẵng làm việc và sinh sống. Đồng thời quận Hải Châu là cầu nối giữa các quận lân cận của thành phố như quận Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ. Từ thực tế như trên nên tình hình giao thông trên địa bàn quận Hải Châu có một số đặc điểm như:

 

 

 

- Lưu lượng xe tham gia giao thông trên các tuyến đường luôn đông đúc.

- Là nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện văn hóa – xã hội, thể thao, các sự kiện chính trị thu hút các đoàn nước ngoài, người dân ở các địa phương lân cận và cả nước tập trung về thành phố.

- Có nhiều loại phương tiện tham gia giao thông trên các tuyến đường, trong đó có một số loại phương tiện thô sơ không đảm bảo độ an toàn.

- Số lượng người dân từ các địa phương khác đến sinh sống và làm việc tại quận Hải Châu rất lớn và tăng liên tục sẽ làm tăng lưu lượng xe tham gia giao thông.

                           Một vụ ùn tắc giao thông phía tây cầu Sông Hàn.

- Đặc biệt trong thời gian từ 2009, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Hải Châu nói riêng, số lượng xe máy, xe ôtô tham gia giao thông có sự bùng nổ. Điều này phản ánh về chất lượng cuộc sống, thu nhập của người dân tăng lên nhưng đồng thời trong thời gian từ năm 2009 đến nay số lượng tai nạn giao thông do ôtô gây ra cũng có sự gia tăng. Trong năm 2009 là 213 vụ (chiếm 39.5% số vụ tai nạn của cả năm 2009), 2010 xảy ra 111 vụ (chiếm 38.4% số vụ tai nạn của cả năm 2010) và trong sáu tháng đầu năm 2011 đã xảy ra 91 vụ (chiếm 30.6% tổng số vụ tai nạn trong sáu tháng đầu năm 2011).

Trên địa bàn quận Hải Châu hiện có một số điểm nóng giao thông như phía tây Cầu Sông Hàn, ngã tư Ông Ích Khiêm - Quang Trung, ngã tư Nguyễn Chí Thanh - Lê Duẩn, ngã tư Hùng Vương - Ông Ích Khiêm,…

Qua tình hình tai nạn do xe ôtô gây ra ngày càng nhiều, một vấn đề cần đặt ra là nhận thức và khả năng xử lý tình huống của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông là xe ôtô liệu có đảm bảo chưa, chất lượng đào tạo người lái xe của các Trung tâm có đủ chất lượng hay không? Đây là một bài toán mà chúng ta cần phải tiên lượng và tìm lời giải đáp nhằm có biện pháp khắc phục kịp thời, không để xảy ra tình trạng bùng phát và trở thành nguyên nhân chính của các vụ tai nạn giao thông.

2. Thực trạng tội phạm vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Quận Hải châu.

Trong những năm qua, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn quận Hải Châu diễn ra hết sức phức tạp, số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, số người chết và bị thương nặng gia tăng liên tục. Trước tình hình đó các cơ quan chức năng quận Hải Châu đã chủ động và triển khai các phương án giữ gìn trật tự an toàn giao thông rất tích cực và mang lại nhiều kết quả tốt. Đặc biệt trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn về chính trị, văn hóa, xã hội, thể thao,… tình hình giao thông luôn được đảm bảo, không để xảy ra ùn tắc giao thông nghiêm trọng.

Gần đây hiện tượng gây tai nạn của các xe ôtô tải xảy ra nhiều và gây hậu quả rất nghiêm trọng. Trong 6 tháng đầu năm 2011 các Cơ quan tiến hành tố tụng quận Hải Châu đã phối hợp thực hiện 03 vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” do xe ôtô tải gây ra làm án trọng điểm và đưa ra xét xử nghiêm minh nhằm răn đe, trừng trị bị can cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

Theo số liệu thống kê từ năm 2009 đến hết tháng 5 năm 2011 trên địa bàn Quận đã xảy ra 86 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm chết 72 người, bị thương nặng ( thương tích trên 31%) 14 người. (Năm 2009: 27 vụ, năm 2010: 33 vụ và 6 tháng đầu năm 2011 là 26 vụ). Trong đó, số vụ tai nạn do người điều khiển xe tự gây ra là: 09 vụ, số vụ có người nước ngoài là: 04 vụ, số vụ người gây tai nạn bỏ chạy khỏi hiện trường đến nay chưa xác định được là: 05 vụ.

Qua số liệu thống kê ở trên cho thấy mức độ hậu quả thiệt hại do các vụ tội phạm vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn quận trong những năm qua có diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn, số vụ tai nạn nghiêm trọng và số người chết, bị thương gia tăng theo từng năm. Đặc biệt trong sáu tháng đầu năm 2011 đã bằng 96.3% so với cả năm 2009 và bằng 79% so với cả năm 2010. Ngoài những thiệt hại vật chất như tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông, các vụ tội phạm xảy ra đã tác động xấu đến trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các hoạt động kinh tế, xã hội, giao thông vận tải, tác động tiêu cực đến tâm lý của người tham gia giao thông, quần chúng nhân dân về sự mất an toàn khi tham gia giao thông.

Điển hình như vụ tai nạn giao thông xảy ra lúc 0h30 phút ngày 26/01/2009, xe mô tô biển số 43K7-7371 do Trần Thanh Hiền điều khiển chở Phạm Quang Thịnh đã lấn đường chạy quá tốc độ đâm vào 02 xe máy chở 04 người chạy ngược chiều. Hậu quả làm chết 03 người và bị thương nặng 03 người. Đây là vụ tai nạn có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trong những năm gần đây. Tuy là vụ án đặc biệt nghiêm trong nhưng Cơ quan điều tra không khởi tố được vì Trần Thanh Hiền là người gây tai nạn đã chết.

Hoặc vụ TNGT xảy ra lúc 16h ngày 30/10/1970 do Tống Đồng Vọng điều khiển xe ô tô con mang biển số 43h-3222 chở chị Huỳnh Thị Kiều Oanh chạy trên cầu Thuận Phước theo hướng từ q.Sơn Trà về q.Hải châu. Khi đổ dốc xuống cầu, do chạy tốc độ quá nhanh nên tông vào lan can cầu và xe ô tô rơi xuống từ đường dẫn lên cầu . Hậu quả làm anh Vọng và chị Oanh chết tại chỗ, lan can cầu và xe ô tô hư hỏng nặng.

* Một số đặc điểm của tội phạm vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ (số liệu thống kê từ năm 2009, 2010 và 6 tháng đầu năm 2011)

+ Đặc điểm về nhân thân đối với những vụ TNGT gây hậu quả nghiêm trọng:

Về giới tính: Đối tượng chủ yếu do nam giới thực hiện với tổng số 125 đối tượng và 23 đối tượng là nữ giới.

Về độ tuổi: Đối tượng gây ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng chủ yếu thuộc độ tuổi từ 18-30 và trên 30 tuổi.

- Dưới 18 tuổi: 05 người.

- Từ 18 đến 30 tuổi: 72 người.

-  Trên 30 tuổi: 71 người.

(xem bảng thống kê số 03)

+ Đặc điểm về phương tiện giao thông gây ra tai nạn:

Các vụ tai nạn xảy ra chủ yếu là giữa xe môtô với môtô và giữa xe ôtô với môtô, cụ thể:

- Xe ôtô - xe môtô, bộ hành : 27 vụ, trong đó: năm 2009: 02 vụ, 2010: 12 vụ và đầu năm 2011:13 vụ. Điều này cho thấy các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng do xe ôtô gây ra ngày càng tăng mạnh, 6 tháng đầu năm 2011 đã vượt so với cả năm 2010 và gấp 6,5 lần so với cả năm 2009.

- Xe môtô - xe môtô: 44 vụ.

- Xe môtô - với xe thô sơ, bộ hành: 15 vụ.

+ Đặc điểm về thời gian xảy ra tai nạn:

Các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng ( kể cả va chạm gây thương tích nhẹ ) tập trung nhiều nhất vào thời điểm từ 18h giờ tối đến 06 giờ sáng ngày hôm sau (chiếm 63% trên tổng số 86 vụ), các số liệu cụ thể như sau:

- Từ 06 giờ đến 18 giờ: 35 vụ.

- Từ 18 giờ đến 06 giờ: 51 vụ.

Qua phân tích cho thấy tội phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn quận chủ yếu do người điều khiển vi phạm tập trung vào những lỗi như: Lưu thông không đúng phần đường, tránh vượt sai qui định và không chú ý quan sát, chạy quá tốc độ qui định. Đặc biệt, phần lớn số người gây tai nạn hầu hết đã uống rượu bia trước đó.

 

+ Đặc điểm về thủ đoạn che giấu tội phạm :

- Thủ đoạn phổ biến trong các vụ vi phạm an toàn giao thông đường bộ là đối tượng gây tai nạn thường đổ lỗi cho nạn nhân, cho khách quan khi nạn nhân chết hoặc bị thương nặng không thể khai báo được, thậm chí có trường hợp còn tạo ra nhân chứng giả để khai báo hướng có lợi cho người gây án.

          - Cố ý làm xáo trộn hiện trường, sai lệch các dấu vết tại hiện trường hoặc tạo các tình tiết và hiện trường giả thì những thủ đoạn này xuất hiện trong các trường hợp vụ án xảy ra tại các nơi vắng người qua lại hoặc khi nạn nhân bị thương nặng, người nhà của người gây án đang đưa nạn nhân đi cấp cứu, người gây tai nạn thường làm sai lệch vị trí đâm va, vị trí và tư thế nằm đổ ngã của phương tiện và của nạn nhân hoặc tạo dấu vết giả tạo trên hiện trường.

          - Xóa dấu vết hoặc thay đổi kết cấu kỹ thuật của phương tiện gây án. Thủ đoạn này thường được sử dụng trong những trường hợp người gây án bỏ chạy cùng phương tiện, để trốn tránh pháp luật đối tượng thường có hành vi sửa chữa lại những hư hỏng trên phương tiện của mình, xóa các dấu vết do va chạm gây ra, rửa sạch dấu vết, sơn lại các dấu vết bị bong tróc khi va chạm…

          - Bỏ chạy sau khi gây án: Đối tượng gây án thường sử dụng thủ đoạn này khi nơi xảy ra vụ án vắng người qua lại, nạn nhân chết hoặc bất tỉnh và không có người làm chứng để nhận dạng; trong nhiều trường hợp người phạm tội ngụy trang dưới hình thức đưa nạn nhân đi cấp cứu hoặc lấy lý do sợ người nhà nạn nhân trả thù nên bỏ trốn hoặc đánh tráo người gây án và sửa chữa thay đổi phương tiện gây án…

3. Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Quận hải châu

- Nguyên nhân chung của tình hình TNGT đường bộ  là do công tác quản lý nhà nước về TTATGT còn bị buông lỏng trên nhiều lĩnh vực, việc ban hành các văn bản pháp quy chậm, thiếu đồng bộ; quản lý nhà nước về hành lang ATGT và giao thông đô thị, quản lý đào tạo, sát hạch và cấp giấy phép lái xe, kiểm định về kỹ thuật an toàn đường bộ và phương tiện giao thông cơ giới… chưa chặt chẽ. Việc cưỡng chế thi hành pháp luật đối với những vi phạm về TTATGT còn nhiều vướng mắc, thiếu văn bản pháp lý đồng bộ, thiếu kịp thời và thống nhất. Việc xử lý giải quyết và đưa ra xét xử các vụ án TNGT gây hậu quả nghiêm trọng còn để kéo dài, nặng về thỏa thuận bồi thường dân sự để xử lý hành chính và một số bản án hình sự chưa nghiêm khắc để có thể răn đe giáo dục chung và phòng ngừa riêng với loại tội phạm này.

          - Do tốc độ đô thị hóa và các chương trình, dự án đầu tư, xây dựng cơ bản đang được đầu tư, phát triển nhanh; trên địa bàn quận Hải Châu là quận trung tâm nên tập trung nhiều chi nhánh công ty, nhà máy, nhiều trung tâm thương mại, tài chính, dịch vụ, nhiều điểm đến cho khách du lịch…, thu hút nhiều người trong và ngoài nước đến đầu tư, làm việc, kinh doanh, tham quan, nghỉ dưỡng.v.v.. dẫn đến lưu lượng người tham gia giao thông tăng nhanh chóng. Đồng thời, đó là sự gia tăng rất nhanh các loại phương tiện giao thông  cơ giới mà trong đó phương tiện xe mô tô là chủ yếu, nếu so sánh năm 2009 với năm 2004 thì tỉ lệ gia tăng xe mô tô là 42,28%, từ năm 2010 đến nay thì sự bùng phát số lượng xe ô tô trên địa bàn gây tắc nghẽn giao thông và đã xảy ra nhiều vụ tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng giữa xe ô tô và xe máy là một minh chứng. Ngoài ra, còn phải kể đến số phương tiện giao thông rất lớn của những người ở địa phương khác đến làm ăn, sinh sống tại thành phố. Chính vì vậy, lưu lượng người và phương tiện tham gia giao thông trên địa bàn gia tăng đột biến và với  tốc độ nhanh. Mặc dầu ở địa bàn quận có hạ tầng giao thông tương đối phát triển nhưng cũng không thể đáp ứng được nhu cầu giao thông hiện nay.

          - Nguyên nhân chính của tội phạm chủ yếu là do ý thức của người điều khiển phương tiện quá kém, coi thường tính mạng của mình và người khác, họ đã thực hiện các hành vi vi phạm như: chạy quá tốc độ, lấn đường, tránh vượt sai quy định, uống rượu bia say, chở quá tải, quá số người quy định; đi bộ sang đường, lưu thông chuyển hướng đột ngột không quan sát. Có thể nhận định rằng hầu hết các vụ TNGT gây hậu quả nghiêm trọng đều xuất phát từ việc người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ cho phép bởi vì chạy xe với tốc độ cao khi gặp sự cố bất ngờ sẽ không xử lý được tình huống và tất yếu dẫn đến hậu quả về tính mạng và thương tật rất lớn

          - Việc tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho các đối tượng tham gia giao thông của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế. Mỗi năm thường chỉ tổ chức một lần, nội dung chưa sát với thực tế, với từng loại đối  tượng cụ thể. Trong nhiều trường hợp việc tuyên truyền còn mang tính hình thức, chạy theo thành tích. Đối tượng quan trọng cần tập trung tuyên truyền đó là đội ngũ lái xe, người học lái xe còn chưa được quan tâm để có nội dung tuyên truyền hợp lý và có hiệu quả. 

4. Quan hệ phối hợp lực lượng và một số hạn chế, vướng mắc trong điều tra, xử lý tội phạm vi phạm qui định về an toàn giao thông

- Qua khảo sát thực tiễn cho thấy tin báo về vụ TNGT đường bộ phần lớn là do người đi đường và nhân chứng báo qua điện thoại, tiếp đến người bị hại và người có liên quan đến báo trực tiếp cho Công an. Trong trường hợp xác định vụ tai nạn có dấu hiệu phạm tội có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có chết người thì CSGT quận Hải châu đã thông báo và phối hợp với các lực lượng cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, Viện kiểm sát Hải châu đến hiện trường để tiến hành công tác khám nghiệm hiện trường, khám tử thi và tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu tại hiện trường. Trong những năm gần đây, công tác tiếp nhận tin báo về vụ TNGT và công tác phối hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường được thực hiện nghiêm túc hơn. Tuy nhiên vẫn còn một số cán bộ Công an cấp phường, CSGT trên địa bàn Quận thiếu tinh thần trách nhiệm, năng lực hạn chế ,khi tiếp nhận tin báo TNGT không ghi chép đầy đủ, không biết phân tích đánh giá thông tin nhận được nên báo cáo chưa kịp thời , dẫn đến lực lượng chức năng xử lý chậm đến hiện trường không kịp thời, hiện trường bị xáo trộn, dấu vết bị phai mờ, biến dạng, nhân chứng đã rời khỏi nơi xảy ra tai nạn hoặc chủ quan cho rằng va chạm nhẹ nên không tiến hành lập biên bản,sơ đồ hiện trường. Điển hình như vụ TNGT xảy ra lúc  23h30 ngày 22/9/2010 Lê Hữu Long ( sinh năm 1993, trú số 306 Hoàng Diệu, ĐN ) điều khiển xe mô tô biển số 43R3-4980 tông vào phía sau bên trái xe ô tô 43H-4515 đậu xe trước số nhà 395 Ông Ích Khiêm nhưng không có bật đèn cảnh báo . Hậu quả anh Long bị thương nặng được đưa vào bệnh viện cấp cứu, sau khi nhận thông tin lực lượng CSGT đến hiện trường , người bị nạn đã được đưa đi cấp cứu, các xe gây tai nạn đã rời khỏi hiện trường thì lại không lập biên bản và theo dõi người bị nạn chết hay còn sống, dẫn đến người bị nạn chết gia đình đưa đi mai táng, sau đó mới làm đơn khiếu nại thì CSGT mới biết và trưng cầu pháp y, tổ chức dựng lại hiện trường gây khó khăn cho việc tiến hành các biện pháp điều tra tiếp theo. Bên cạnh đó có những trường hợp người ở tỉnh xa bị tai nạn bị thương nặng được đưa vào bệnh viện cấp cứu sau đó chết và được bệnh viện cho đưa về quê nhưng lực lượng CSGT không liên hệ với bệnh viện hoặc không để lại số điện thoại liên lạc nên dẫn đến sau đó phải tổ chức lực lượng khám nghiệm tử thi ở các tỉnh như Quảng trị, Bình định, Quảng nam gây tốn kém và lãng phí thời gian.

- Qua đi sâu nghiên cứu , phân tích các hồ sơ vụ án vi phạm các qui định về điều khiển giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng đã khởi tố, không khởi tố hoặc xử lý hành chính trong những năm qua cho thấy : Hầu hết hồ sơ vụ án chưa thể hiện đầy đủ, đúng qui định về việc mô tả tỉ mỉ các dấu vết trên thân thể nạn nhân mà chủ quan cho rằng các dấu vết đã được thể hiện đầy đủ trên các ảnh chụp;  sơ đồ hiện trường không được phác họa đầy đủ, biên bản khám nghiệm còn ghi sơ sài, chung chung …Ngoài ra việc xác định tình trạng kỹ thuật của phương tiện có liên quan đến vụ án nhiều trường hợp chưa chính xác, vì lý do cán bộ điều tra chưa có trình độ chuyên môn về kỹ thuật phương tiện giao thông ; nhiều vụ tai nạn phức tạp xảy ra nhưng không trưng cầu cán bộ kỹ thuật hình sự tại hiện trường một cách kịp thời để có thể tìm ra dấu vết nhanh chóng mà chủ yếu phát hiện dựa trên ghi nhận những dấu vết vật chứng thể hiện trên hiện trường, phương tiện bằng mắt thường có thể thấy được. Thời gian tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện còn phụ thuộc vào sự tham gia của nhiều lực lượng dẫn đến chậm trễ như bác sỹ pháp y và trong một số trường hợp là Điều tra viên, Kiểm sát viên. Trong thời gian vừa qua có một số vụ TNGT gây hậu quả chết người tại hiện trường cũng như chết trên đường đưa đi cấp cứu nhưng lực lượng CSGT quận không thông báo cho CQĐT cũng như VKS phối hợp khám nghiệm hiện trường ngay từ ban đầu, dẫn đến việc dựng lại hiện trường khó khăn và bị xáo trộn, việc làm trên đã vi phạm vào điều 150BLTTHS, quyết định 768/2006/QĐ của Bộ công an nên VKS quận Hải châu đã có văn bản kiến nghị ( năm 2010 ) khắc phục vi phạm.

- Căn cứ vào pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004, qui trình điều tra xử lý TNGT số 18 do Bộ công an ban hành năm 2007, quy chế kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát ND Tối cao, thì khi TNGT xảy ra có người chết, CSGT phải phối hợp với CSĐT, Viện kiểm sát tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi. Sau đó CQĐT thụ lý tiến hành điều tra và Viện kiểm sát giám sát hoạt động này. Trường hợp không có người chết và bị thương tích dưới 31% thì CSGT thụ lý đề xuất xử lý hành chính. Tuy nhiên trong thực tế việc điều tra xử lý các vụ án giao thông tại Quận Hải châu còn nhiều mặt hạn chế, vướng mắc như:

* Nhiều vụ án CQĐT thụ lý vi phạm thời hạn xử lý thông tin qui định tại điều 103 BLTTHS, dẫn đến sự khiếu nại của gia đình nạn nhân. Ngoài nguyên nhân khách quan do khối lượng án nhiều, lực lượng ĐTV ít thì phần lớn các vụ án để kéo dài là do trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như kiến thức về khoa học kỹ thuật của cán bộ điều tra không đồng đều, mặt khác ĐTV quá tập trung trong việc thỏa thuận dân sự giữa đôi bên mà không tập trung điều tra làm rõ lỗi gây tai nạn của các bên để tiến hành khởi tố, không khởi tố vụ án hoặc đưa ra họp liên ngành để xử lý giải quyết sớm.

* Qua khảo sát thực tiễn các vụ TNGT gây chết người hoặc thương tích trên 31% trong những năm gần đây trên địa bàn Quận Hải châu cho thấy khoảng 60% số vụ ghi được lời khai nhân chứng chứng kiến vụ tai nạn, điều đó cho thấy một phần nguyên nhân do ý thức người dân kém do tâm lý ngại mất thời gian, ngại làm việc với cơ quan Công an, VKS, Tòa án, sợ mất lòng các bên trong vụ tai nạn…một phần do CSGT hay CSĐT khi tiến hành điều tra tại hiện trường không có kinh nghiệm, không có thái độ đúng mực để xác định và yêu cầu người làm chứng khai báo sự việc, thậm chí không ít trường hợp gặp phải người khai báo sự việc lại là người thân của bị hại hoặc người gây tai nạn, nên những thông tin họ khai báo thường không khách quan, không chính xác..dẫn đến việc điều tra gặp khó khăn, kéo dài , thậm chí bế tắc không xử lý được vụ án. Đơn cử như vụ TNGT xảy ra trên cầu Sông hàn vào lúc 14h ngày 16/01/2010, Lê Duy Văn điều khiển xe mô tô 43S9-8810 chạy trên cầu Sông Hàn, khi đến giữa cầu thì xảy ra tai nạn làm Văn chết tại chỗ, xe mô tô gây tai nạn liên quan bỏ chạy khỏi hiện trường, quá trình khám nghiệm hiện trường phát hiện một điện thoại di động rơi trên xe của Văn, qua truy xét xác định chiếc điện thoại của Hồ Văn Lợi và Lợi khai vào thời gian trên có đi qua cầu sông Hàn thì nghe tiếng va quẹt ở đuôi xe làm xe Lợi chao đảo, Lợi quay lại thấy một người thanh niên nằm dưới đường nhưng vẫn tiếp tục điđến chỗ làm việcvàkhông thừa nhận gây tai nạn cho anh Văn, vụ việc lại không có nhân chứng nên đến nay vẫn chưa xử lý được.

* Trong các vụ án TNGT, việc lấy lời khai người gây tai nạn có vai trò rất quan trọng trong việc chứng minh ,làm rõ vụ án vì hầu hết các vụ án này không có nhân chứng hoặc nhân chứng không thấy rõ sự việc, người bị hại đã chết. Thực tiễn hiện nay là trong quá trình điều tra các vụ án về TNGT, trước khi có quyết định khởi tố bị can thì giữa ĐTV và bị can đã có quá trình tiếp xúc, làm việc với nhau. Chính vì vậy, trong hầu hết các vụ án TNGT việc hỏi cung bị can thực chất là việc sao chép lại lời khai trước đây vào biên bản hỏi cung mà ít có các câu hỏi mang tính điều tra mở rộng để làm rõ vụ án. Đối với những vụ lái xe bỏ trốn cùng phương tiện, hiện trường đã bị biến dạng, xáo trộn; tai nạn liên quan đến từ nhiều phía, lỗi hỗn hợp ... thì đối tượng gây tai nạn thường đổ lỗi cho người khác để trốn tránh trách nhiệm. Trong những trường hợp này, lẽ ra ĐTV phải sử dụng các phương pháp, chiến thuật xét hỏi hợp lý căn cứ trên hiện trường để lại và những tài liệu đã thu thập được để đấu tranh với đối tượng, nhất là làm rõ các lỗi chạy quá tốc độ tốc độ khi xe để lại vết xước, trượt dài trên đường hoặc lỗi chú ý quan sát khi tham gia giao thông. Một điểm chú ý nữa là ĐTV thường đưa ra các câu hỏi và định hướng trả lời cho đối tượng, bị can hoặc người làm chứng theo hướng giảm tính chất , mức độ phạm tội, chối bỏ lỗi gây tai nạn và nhất là tập trung lỗi cho người đã chết, người thứ ba…