Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng đang có xu hướng sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ thực hiện tội phạm. Các hành vi như tạo video deepfake, giả giọng nói, phát tán thông tin sai sự thật hoặc làm giả chứng cứ điện tử đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.

Thực tiễn cho thấy, AI tuy không phải là chủ thể của tội phạm nhưng lại là phương tiện công nghệ có khả năng làm gia tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mở rộng phạm vi tác động và gây khó khăn trong việc xác định chứng cứ điện tử cũng như yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi.
Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc sử dụng hoặc lạm dụng trí tuệ nhân tạo như một tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là khoảng trống pháp lý cần sớm được nghiên cứu, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong tình hình mới.
Từ thực tiễn đó, cần nghiên cứu bổ sung tình tiết “sử dụng hoặc lạm dụng trí tuệ nhân tạo” đối với một số tội danh như: Vu khống (Điều 156 BLHS), Làm nhục người khác (Điều 155 BLHS), Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính (Điều 288 BLHS)... Đồng thời, xem xét bổ sung đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội có sử dụng công nghệ AI để tạo nội dung, thao túng dữ liệu hoặc phát tán thông tin sai lệch.
Bên cạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật, cần tăng cường cơ chế giám định chứng cứ điện tử; đào tạo kỹ năng nhận diện deepfake, dữ liệu giả mạo; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong xử lý tội phạm công nghệ cao.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý đối với AI không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ mà còn bảo đảm nguyên tắc công lý, an toàn pháp lý và hiệu quả quản trị nhà nước trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Nguyễn Thị Thanh Thúy – VKSND khu vực 10

















